Sunday, January 31, 2010
Sen's Day
Friday, November 20, 2009
Tẩn mẩn Ngày Nhà Giáo
Mấy bữa nay thằng Mít nhà mình cứ dậm dạp tỉ tê với mẹ nó chuyện mua hoa tặng cô giáo ngày 20/11. Hôm qua cu cậu gọi điện cho bà nội, một cựu nhà giáo, hỏi xin hoa học sinh cũ tặng bà để recycle mang đi tặng cô giáo nó.
Mít nhà mình 5 tuổi, đang học mẫu giáo lớn. Tuổi ấy mà biết tính toán thế thì con hơn cha cả cây số rùi đới! Mình lên lớp 6 mới biết recycle quà 20/11 của mẹ, lúc thì cái nón, lúc thì bộ ấm chén, những quả quà bất hủ đầy tính tượng trưng của một thời vừa mới qua và có lẽ chẳng bao giờ quay trở lại. Giờ thì, Gấu nhà mình bẩu, cứ phong bì cho gọn!
Mình bẩu, ừa, em cứ làm cho chu đáo. Thời đại quang vinh mà chúng ta đang sống chẳng phải là Thời Của Phong Bì sao?
Dịp này, mấy tờ lá cải lại ông ổng chiện đưa phong bì cho cô giáo, rặt một giọng hoài cổ “Ngày xưa đâu có chiện quà cáp thế lọ thế kia, người ta chỉ đến bằng tấm lòng, bằng tình cảm thiêng liêng thế lọ thế kia”. Sốt ruột!
Bà già mình là giáo viên toàn tòng, nói theo lối điện ảnh thì xứng đáng được nhận “Giải thưởng trọn đời”. Vì thế từ nhỏ mình đã biết xiền rất quý, đối với nhà giáo viên lại càng quý! Quà cáp của phụ huynh âu cũng là một giải pháp bất đắc dĩ, nhưng khả dĩ nhất trong buổi hỗn mang này. Cứ hiểu đấy là chút bổng lộc bé mọn đặng giúp thầy cô phấn khưởi lên tý cũng được. Hoặc hiểu đấy là một dạng học phí ngoài luồng cũng được, có sao đâu? Nhưng đừng hiểu đấy là hối lộ, bởi nhận hối lộ là đáng khinh. Chỉ vì chút tiền hèn mà khinh thầy cô thì tội lắm!
Tất nhiên, ai chẳng mong một ngày nào đó chế độ lương bổng cho giáo viên trở nên hợp lý hơn và những chiện eo sèo này sẽ qua đi. Ngày ấy, mình sẽ lại biên một bài man mác, nhớ lại ngày đầu tiên mang phong bì đến nhà cô giáo của con. Đó là một buổi sáng đầy sương thu và gió lạnh...
Chiện quà cáp cho thầy cô, tóm lại, chẳng có gì đáng gọi là vấn đề trong toàn cảnh nền giáo dục nước nhà hiện nay. Đấy chỉ là một cái mụn trên cánh tay của một người mắc bệnh ung thư, chẳng là gì so với những triệu chứng khác, như nạn giáo điều, nạn chạy bằng, nạn mua điểm, nạn quay cóp, vưn vưn...
Cách đây lâu lâu, mình có biên một bài [1] nói về việc dạy trẻ con ở lứa tuổi mầm non, nội dung rất sến, đại khái so sánh phương pháp dạy con nít của bọn Khoai Tây với phương pháp của VN. Bài gửi lên đăng trên trang web của Hội nhà văn hẳn hòi, lòe được mấy thằng bạn, nhưng mục đích chính của mình là nhắn nhủ Gấu để cho thằng Mít nó chơi, đừng ép nó học, vậy thôi. Mình biết có nghìn bài cải lương như thế đăng cả lên Nhưn Dưn thì cũng chẳng giải quyết được vứn đề gì. Bởi căn bệnh của nền giáo dục VN chẳng thể chữa bằng cách xoa dầu cù là kết hợp uống thuốc bắc mà được.
Đó là một căn bệnh trong cốt tủy.
******
Cách đây vài tuần, mình đi theo đứa bạn dã ngoại chụp ảnh cưới, tình cờ gặp lại giáo Vương. Giáo Vương thua mình 3 tuổi, ngồi cùng một chuyến máy bay sang Nhựt với mình. Xuống sân bay hai thằng ngồi nói chuyện dăm câu ba điều rồi chia tay, mỗi thằng một đường. Mình về Kyoto, nó đi Shiga, khoảng cách thì không xa nhưng vẫn là tỉnh khác. Mới đấy mà đã hơn ba năm!
Giáo Vương nghiên cứu giáo dục. Thấy mình có vẻ hiếu học, giáo tận tình giảng giải cho mình về khác biệt giữa giáo dục Nhựt với giáo dục VN. Khác biệt từ nền tảng.
Giáo Vương bẩu, muốn xây một ngôi nhà thì trước hết phải mường tượng ra được ngôi nhà sẽ như thế nào, rồi đến thiết kế, rồi mới xây, vưn vưn. Giáo dục cũng thế, muốn dạy trẻ con thì trước hết phải có được cái hình mẫu con người mà mình muốn đứa trẻ trở thành. Cái này VN mình không có!
Mình hỏi, thế Nhựt Bẩn thì sao?
Giáo liên thiên một hồi, rồi bẩu mình về nhà tự gúc ra mà đọc.
Nhờ sự dạy dỗ của giáo Vương, mình gúc ra cái Giáo Dục Cơ Bản Pháp [2], còn được gọi là Giáo Dục Hiến Chương, là đạo luật nền tảng về giáo dục của Nhựt. VN mình, theo giáo Vương, không có đạo luật nào tương tự [3].
Đạo luật gồm 4 chương, 18 điều, in font size 12 ra bốn trang A4, có hiệu lực từ ngày 31/3/1947, được sửa đổi một lần ngày 22/12/2006.
Điều 1 bẩu, mục đích của giáo dục là hướng tới sự hoàn thiện nhân cách và trang bị những tư chất cần thiết về thể lực và tâm lý cho con người để xây dựng quốc gia và xã hội hòa bình và dân chủ.
Điều 2 bẩu, tự do học thuật đương nhiên là được tôn trọng số 1 rùi [4], nhưng thứ đến, giáo dục nên đặt mục tiêu làm cho con người ta:
i) Có văn hóa và kiến thức rộng rãi, biết yêu chuộng và dám bảo vệ sự thật, biết nuôi dưỡng lòng nhân từ và tình cảm phong phú, biết rèn luyện thân thể khỏe mạnh.
ii) Tôn trọng các giá trị cá nhân, nâng cao khả năng sáng tạo, rèn luyện tinh thần tự chủ, tự cường, coi trọng mối quan hệ giữa công việc với đời sống, coi trọng sự lao động.
iii) Quý trọng chính nghĩa, trách nhiệm, sự bình đẳng nam nữ, sự hợp tác và tương ái với người khác, yêu thích đóng góp và chủ động tham gia vào các hoạt động cộng đồng vì sự hình thành và phát triển của xã hội.
iv) Quý trọng sinh mệnh, coi trọng tự nhiên, có ý thức bảo vệ môi trường.
v) Tôn trọng truyền thống và văn hóa, biết yêu quê hương, đất nước mình, cũng như tôn trọng các nước khác, có ý thức đóng góp vào hòa bình và phát triển của toàn thế giới.
Điều 3 nói về triết lý cho việc học tập suốt đời, khuyên: Mỗi người dân cần tự bồi dưỡng nhân cách của mình, đặng sống một cuộc đời phong phú, vì thế nên mưu đồ việc tận dụng những thành quả của xã hội để học tập hễ có cơ hội, bất cứ ở đâu và suốt cả cuộc đời...
******
Hơn cả một đạo luật, Giáo Dục Cơ Bản Pháp của Nhựt là một minh triết.
Soạn thảo một đạo luật như thế không phải là bất khả thi đối với VN, nhưng cơ sở luật pháp của VN chưa cho phép một đạo luật như thế tồn tại.
******
Sáng nay, mình gọi điện cho bà già mình để chúc mừng. Bà già mình bẩu, nên cho thằng Mít đi học thêm để chuẩn bị vào lớp 1. Mình bẩu, thôi. Bà già mình lại bẩu, rồi đây con người ta đi học thêm cả, điểm cao. Con mình không học thì điểm kém, ảnh hưởng lắm. Mình bẩu, bọn con muốn dạy cháu kiểu khác. Bà già mình hỏi, như nào?
Mình nghĩ bụng trích đoạn đầu của Giáo Dục Cơ Bản Pháp ra để trả lời. Song lại nghĩ, nếu thế bà già mình sẽ nói một câu chắc chắn làm mình tịt ngay. Bà già mình sẽ nói:
“Dạy kiểu đó thì ra đời nó dẫm cho bẹp ruột. Trừ phi xách nó sang Khoai Tây mà sống”.
Minh triết đấy chăng?
Dĩ nhiên! Cô giáo nói bâu giờ cũng đúng!
Chú thích:
[1] Cải cách giáo dục – Chuyện nhỏ
[2] 教育基本法
[3] Mặc dù ngày 20/11 còn được gọi là Ngày Hiến Chương Nhà Giáo Việt Nam, nhưng VN không có văn bản nào gọi là Hiến Chương Nhà Giáo cả. Thực ra đó chỉ là cách gọi ăn theo Ngày Quốc Tế Hiến Chương Nhà Giáo do Liên Hiệp Công Đoàn Nhà Giáo Quốc Tế lập ra ngày 20/11/1958. Vì thế, tên gọi Ngày Hiến Chương Nhà Giáo Việt Nam nghe thì oách (vì có tý chất Tầu) nhưng sai toét, tiệt đối không nên dùng.
[4] Do điểm này, luật cho phép nhà trường tự đặt ra mục tiêu giáo dục riêng, không nhất thiết phải theo luật. Phạm trù bao gồm của tự do học thuật rất rộng, chẳng hạn, nhà trường có quyền tự chọn sách để làm giáo khoa cho riêng trường mình, không bị kiểm duyệt về những tư tưởng và quan điểm mang ra dạy cho học sinh, vưn vưn...
Saturday, August 8, 2009
Đọc thơ cho vợ (3) - Kỳ 2
Cuối tháng, tôi treo tất cả xung quanh một chiếc gương
Đó là chiếc gương chỉ khi buồn bã
Tôi mới cởi mặt nạ ra để ngắm nhìn mình
Những sai lầm luôn thay dạng đổi hình
Chúng rình rập tôi sau những câu cảm thán
Tôi thấy rõ chúng chẳng chây lười
Chúng dậy sớm, và ngồi chờ tôi một cách bình thản
Tôi hay ví chúng với những viên đạn
Mà tôi bắn vào mọi so bì thiệt hơn
Những sai lầm quện với nhau thành bè bạn
Bất cứ lúc nào tôi cũng cô đơn.
Ai vừa qua đời bên kia bản tin?
Ai phí một chăm sóc?
Chao ôi, đất
Lại phải giấu giếm mãi không thôi
Có một cái tên
Bay lên
rồi tan
Tên gì nghe nhàm nhàm
Mọi người có những cái tên nhàm nhàm
Sao không biết chán?
Cả số phận nữa
Nếu nhàm nhàm
Sao không để nó bay lên?
Chết nhạt quá
Bản tin thoăn thoắt quá
Ngày đấy chăng?
Tôi ngồi nhạt quá
Rất bị động
Lẫn lộn giữa mưa tin
Người phát ngôn
Giọng quả quyết
Rằng người có cái tên nhàm nhàm đó đã chết
Sao anh nói say mê thế
Về sự ra đi của một con người?
Tôi ngồi rỗng mặt
Mưa tin tạnh lúc mấy giờ?
(Bản tin cuối ngày)
Cụm ý nghĩ, xoắn vào nhau, điên đến nơi
Nhưng tôi thì chưa
Bình tĩnh châm thuốc hút
Thành phố ngủ
Giấc mơ loè loẹt điên loạn
Nó đồng sàng với những người ngủ
Ngay cả đốm đỏ lửa
Trên đầu điếu thuốc
Cũng có vẻ loé điên
Mặt trời rõ điên rồi còn gì
Chực chờ một giấc ngủ sâu thẳm
Tôi bình tĩnh lắm
Hơi run lên ngón tay
Vì cái bóng tôi trên tường
Lẳng lặng chuồn ra những gốc cây
Chúng điên cả rồi
Một vườn ươm những giấc mơ loè loẹt ấy
(Phát điên)
Tôi thấy phi lý nhảy dựng lên
Điếu thuốc cuối cùng đã tắt
Buổi sáng lén lút cười giữa đống chăn.
Friday, July 31, 2009
Đọc thơ cho vợ (3) - Kỳ 1
Dòng sông vắng khách, con đò trầm ngâm
Bụi tre thích đứng cười thầm
Giàn bầu, giàn bí thích cầm tay nhau
Con chim sẻ nhớ bẹ cau
Con chào mào lại nhớ màu ổi ương...
Lòng tôi lắm ngách nhiều đường
Trẻ con theo phía trống trường mà đi
Mặt trời vừa giống hòn bi
Lại vừa giống điểm bài thi hôm nào...
Tuổi tôi câu cá bờ ao
Chợt mong chẳng có con nào cắn câu
Tuổi tôi bám chặt lưng trâu
Vượt sông mà ngắm nhịp cầu bắc ngang
Tuổi tôi ra đứng đầu làng
Để xem màu nắng có vàng như hoa?
Tuổi tôi sục sạo khắp nhà
Tìm sao cho đủ tiếng gà ban trưa
Tuổi tôi chạy giữa cơn mưa
Thương con kiến cánh bay chưa kịp về
Tuổi tôi cắt cỏ ven đê
Những khi đầy gánh lại khe khẽ buồn
Tuổi tôi lúc ngắm hoàng hôn
Lo cho diều giấy vẫn còn trên cao
Tuổi tôi có lối rẽ vào
Suốt đời bước thấp, bước cao - Tôi tìm.
Trời thử bụng ta
Có mùa thóc lép
Lợp trên mái nhà...
Có mùa hoa cà
Tự nhiên tím tái
Bà ví lông gà
Vàng như vườn cải
Ông ví mặt trời
Như lời mối lái
Đêm đêm mò về làng
Mắt như sao rơi xuống đất
Mỗi chiếc lông rụng
Mang theo một hạt bụi
Của núi đồi
Nếu không lạc vào những tiếng chuông trên mặt nước
Rồi đuổi theo em áo vàng trong cánh đồng ngô
Bắp tròn hạt mẩy
Lằn mãi phía tôi đi
Một tuổi thơ chân không ấm ức
Bà tôi chỉ phía cánh đồng sáng rực
Bảo rằng, nơi ấy mặt trời
Đang rèn những lưỡi cày sáng loáng
Để xới tung lên những kiếp người.
Ai sẽ đánh luống cho cuộc đời tôi?
Để mỗi sớm mọc lên một mầm cây bé tí
Ai sẽ be bờ cho dòng chảy tôi?
Một con mương trong xanh không nghỉ.
Saturday, February 7, 2009
Twinkle twinkle little star
|
Twinkle twinkle little star (Bầu trời sao) - Nhạc Anh
Twinkle twinkle little star
How I wonder who you are
Up above the world so high
Like a diamond in the sky
Twinkle twinkle little star
How I wonder who you are?
Bầu trời đêm lấp lánh ánh sao
Chiếu sáng sân chơi nơi em ngồi
Có những ngôi sao cao cao vời
Có những ngôi sao như đang cười
Bầu trời đêm lấp lánh ánh sao
Chiếu sáng sân chơi em vui cười.
Sunday, February 1, 2009
Hoa lan

Sinh nhật vợ, mình mua mấy nhánh lan về cắm. Và lưu lại vẻ đẹp của chúng bằng một phác họa.
@ Đ/c vợ: Chúc vợ của anh luôn tươi trẻ và hạnh phúc :-)
Wednesday, January 28, 2009
Sắp sinh nhật vợ
Thursday, January 1, 2009
Cho Mít và Na
Nhân dịp năm mới, ba tặng Mít và Na, các con yêu quý của ba một bài hát.
Bài hát này ba dịch từ một bài hát tiếng Nhật. Bà Agnes Chan, tác giả bài hát, là người Trung Quốc, lấy chồng và định cư ở Nhật. Bà đã từng là đại sứ của Nhật tại Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc.
"Thế giới hòa bình" là tựa đề của bài hát. Một thế giới hòa bình! Đó cũng là mơ ước lớn lao nhất và không tưởng nhất của loài người. Nhưng không vì thế mà chúng ta nên ngừng ước mơ.
Chúc các con của ba hay ăn, chóng lớn và luôn có nhiều mơ ước!
|
Thế giới hòa bình
(Nhạc: Agnes Chan)
Loài người hỡi, nào cùng tiến lên! Cùng xây đắp cho thế giới ngày mai...
Đã từ bao đời nay, khi cuộc chiến tranh đến, mẹ lại xa con
nhìn con ra chiến trường, dòng lệ tuôn rơi
Đã từ bao đời nay, những chàng trai trẻ ấy, đã ngã xuống
tuổi xuân bao ước mơ bị nỡ chôn vùi
Đến khi nào đó, bầu trời đêm lung linh ánh sao sẽ không mờ khói?
Đến khi nào đó, mặt đất dưới chân ta vĩnh viễn không còn đạn bom?
Loài người hỡi, nào cùng tiến lên ! Cùng xây đắp cho thế giới ngày mai
Một thế giới, nghèo đói sẽ tiêu tan! Hòa bình sẽ mãi mãi trên trái đất này
Peaceful world, peaceful world
Trái đất này bình yên...
Đã từ bao đời nay, khuôn mặt những trẻ thơ, nụ cười vắng bóng
rời xa trang sách thơm chẳng được đến trường
Đã từ bao đời nay, vẫn còn những người dân, bần cùng đói rách
chỉ mong cho đến khi được tấm áo lành
Đến khi nào đó, bầy chim sẽ tung đôi cánh bay vào trời tự do?
Đến khi nào đó, ngàn con sóng mang theo tiếng ca từ lòng đại dương?
Loài người hỡi, nào cùng tiến lên! Cùng xây đắp cho thế giới ngày mai
Một thế giới, nghèo đói sẽ tiêu tan! Hòa bình sẽ mãi mãi trên trái đất này
Peaceful world, peaceful world
Trái đất này bình yên...
Peaceful world, peaceful world
Trái đất này thanh bình!
Tuesday, December 30, 2008
Trên đường rong chơi
Trên những dặm đường rong chơi
Chiều nay tôi dừng lại ngắm
Đứng giữa rừng dày tuyết thẳm
Tôi nghĩ về đất nước của tôi
Đất nước tôi – tên gọi Địa Cầu
Sưởi ấm bởi Mặt Trời nóng đỏ
Đất nước tôi mênh mông
mà bé nhỏ
Đi như giọt lệ giữa không trung (*)
Đồng bào tôi hơn sáu tỷ người
Nói hàng nghìn thứ tiếng tôi không hiểu
Tiếng Ê-đê, tiếng Hơ-mông, tiếng Chăm, tiếng Thái
Tiếng Ấn Độ, tiếng A-rập, tiếng Hy Lạp, tiếng Ba Lan
Tiếng Zulu, tiếng Kanuri, tiếng Creole, tiếng Mayan
Nhưng dù họ nói thứ tiếng gì đi nữa
Họ đều giống tôi ở tiếng khóc, cười
Đồng bào tôi hơn sáu tỷ người
Hơn sáu tỷ hình hài, vóc dáng
Thấp, bé, cao, to, thơm, hôi, đen, trắng
Gầy, béo, trẻ, già, tươi, héo, buồn, vui
Đồng bào tôi dẫu khác tôi đến mấy
Vẫn có chỗ giống tôi: Đều là những Con Người!
Đồng bào tôi hơn sáu tỷ người
Có rất nhiều tín ngưỡng
Tôi không biết những gì thánh Allah nói về chúa Jesus
Cũng không rõ hết những lời Phật dạy
Tôi chỉ biết rằng người đã sinh ra tôi là mẹ tôi
Vì thế tôi tin thế gian không có Chúa Trời
Đồng bào tôi hơn sáu tỷ người
Nhưng chỉ có vài chục người gọi tôi là bạn
Chia sẻ với tôi niềm vui và nỗi khó khăn
Chỉ cần chừng đấy, chúng tôi có đủ một thế giới!
Có hơn sáu tỷ đồng bào tôi
Hê hê, đồng bào tôi nhiều quá!
Rất đông nhưng chẳng khiến tôi vui
Tôi lúc này chỉ một ước mong thôi:
Được nắm tay người vợ hiền yêu dấu
Người sẽ cùng tôi đi hết cuộc đời.
Chú thích:
(*): Thơ Xuân Diệu
Thursday, October 16, 2008
Viết bên bờ vịnh Botany
Đã bao lần ngồi xuống định viết một cái gì đó về Sydney, nhưng lại thôi. Lạ thật! Thành phố đã hiện hữu trong cuộc sống của mình, cuộc đời của mình từ lâu rồi, vậy mà khi muốn nói thành lời lại vẫn thấy thiếu thiếu thế nào ấy, cảm giác hụt hơi, tuồng như chưa đủ xúc cảm để viết ra một cách chân thành. Vì thế, ý định tốt đẹp ấy mãi đến giờ mới thực hiện được.
Sydney mình đến lần đầu chẳng khác lúc này bao nhiêu. Đã 11 năm rồi. Nhưng cũng phải thôi, cái lần đầu mình lên Sydney với anh Sinh, thằng Hùng chỉ là một chuyến đi chơi kiểu cưỡi ngựa xem hoa, chỉ lượn lờ khu trung tâm, quanh quẩn chỗ nhà hát Con Sò một hôm rồi lại chạy tiếp lên phía bắc, đến Brisbane rồi Gold Coast. Khu trung tâm, chỗ mấy cao ốc nhôm kính cao chót vót chen chúc nhau sau cái lưng rộng của Vườn thực vật ấy, dẫu có đến 11 năm nữa cũng sẽ chẳng thay đổi mấy. Chỉ có những khu phố mà mình đã không nhìn thấy trong lần đầu chạm mặt với Sydney, những khu nằm về phía Tây năng động của thành phố mới thay đổi diện mạo nhiều hơn, nhanh hơn. Những ngày tháng mình bám rễ ở vùng phía Tây này đã đắp lên ký ức mình nhiều lớp da thịt mới, tình yêu của mình đã bắt nguồn từ một con phố nhỏ có khúc cuối phình rộng ra để quay xe, rồi những đứa con mình đã được sinh ra ở cái bệnh viện có những lối đi bộ rải đầy lá bạch đàn ngai ngái… Tất cả những điều tuyệt diệu ấy đã làm cho nơi này trở nên quá đỗi thiêng liêng đối với mình, ngôn từ chẳng dễ gì mà nói hết ra được.
Chỗ trọ đầu tiên của mình ở Sydney nằm trên gác một căn nhà cũ kỹ trên một phố chính. Phố ấy kéo dài là lên đến đầu đường George St, trái tim của thành phố. Một công ty địa ốc thuê ngôi nhà này, tầng một làm văn phòng, tầng hai cho bọn sinh viên thuê lại. Ngôi nhà dễ phải đến cả sáu bảy chục tuổi, sàn ván gỗ đã võng xuống hết cả, đi cứ cót ca cót két. Phòng mình có một cửa sổ kiểu trượt đứng, nhìn ra một cái ban công nhỏ lúc nào cũng ướt nhẹp, chẳng hiểu tại sao. Nhà bếp cũng có cửa sổ thông ra ban công ấy, mấy đứa sinh viên trong nhà tới bữa đều vào bếp nấu ăn, tuyệt chẳng bao giờ nhìn ra ban công, tuồng như nó không hề tồn tại vậy.
- Nếu còn ở Việt Nam thì bây giờ em đã bỏ nhà đi bụi rồi!
Ngay hôm sau hôm mình dọn vào ở, trong lúc ăn cơm, cái Hằng nói với mình thế. Con bé mới mười tám tuổi, nói năng như dân chợ. Nó kể, sau khi mẹ nó bệnh, mất sớm, nó trở nên lêu lổng đàn đúm, tóc nhuộm xanh đỏ, bố nó chẳng quản nổi, mới nghĩ cách chạy cho nó sang đây theo một khóa tiếng Anh ngắn hạn. Khóa học tiếng chỉ là cái cớ để xin visa. Mỗi năm, có đến hàng nghìn con em VN nộp đơn du học theo diện này, sang đến đất Úc rồi thì mỗi đứa có một nẻo đường để rời xa mái trường, đích đến của chúng trên giấy tờ.
“Sang Sydney, em chỉ có đúng một tờ 100 đô ông già dúi cho trước lúc lên máy bay”, con bé kể tiếp. Qua ngày thứ ba, nó kiếm được chỗ làm trong một tiệm bánh mỳ của chủ người Việt. Lương trả theo giờ, sáu đô một giờ. Một ngày được trên dưới năm chục, đủ đi chợ một tuần. Hôm nào đi học thì xin làm bánh buổi tối. Cứ như thế mà con bé kiếm đủ tiền học. Sau khóa tiếng Anh, nó học tiếp mấy khóa học nghề. Toàn những khóa học phí thấp, nhưng cũng có chứng chỉ. Kể cũng lạ! Ở nhà, bố thúc giục, hăm dọa rồi lại năn nỉ đủ kiểu cuối cùng nó cũng bỏ học giữa chừng. Sang đây một thân một mình, chẳng ai quản thì lại biết lo. Lại có vẻ hiếu học nữa là khác! Bởi khi nó nhìn thấy tương lai của bản thân nó, thấy rằng nếu nó gắng sức thì công sức của nó sẽ có thành quả cụ thể, thành quả nhìn thấy được, đếm được thì tự nhiên nó sẽ gắng sức thôi! Trên đất nước Úc này, có hàng triệu dân nhập cư đủ mọi sắc tộc đang ngày đêm cày cuốc để gieo xuống hạt giống hy vọng và mong chờ ngày hái được quả ước mơ như thế. Một phần không nhỏ trong số họ đã chọn thành phố này, và ngược lại, thành phố cũng đã cho họ mảnh đất để làm điều đó.
Ước mơ ư? “Em định đến dịp kỷ niệm năm năm ngày em đi Úc, em về Việt Nam chơi một chuyến, cho ông già mười nghìn đô cho ông ấy lác mắt ra!”, nó nói, nghe trái lỗ nhĩ của mình quá, nhưng cũng thấy một chút ngùi ngùi. Bởi mình có thể nhẩm tính được mười nghìn đô là bao nhiêu đêm nhồi bột nướng bánh từ mười giờ tối đến bốn giờ sáng của nó.
Cách đây mấy hôm, mình có việc đi qua phố ấy, căn nhà ấy. Mình vòng xe ra lối sau, lối dành cho người thuê nhà, tức là bọn mình ngày xưa. Cổng vào thực ra là một cái cửa gara, mở ra ngõ. Ga ra không có tường hậu, mà thông luôn với một khoảnh vườn bỏ hoang đầy vật dụng bỏ đi. Bước theo cái lối lót sẵn mấy tấm bê tông đúc, cỡ bằng viên gạch lát, để cách quãng, thỉnh thoảng lại dẫm lên một cái lốp ô tô hỏng nằm nửa chìm nửa nổi trong đám cỏ lúc nào cũng ẩm ướt, băng qua cửa nhà vệ sinh có cái móc khóa rỉ hoét chỉ dành cho nhân viên văn phòng địa ốc sử dụng, là đến cửa hậu của ngôi nhà. Qua cửa ấy, phía bên phải là cầu thang lên gác…
Phải mất một lúc mình mới xác định lại đúng vị trí của căn nhà. Dấu tích của cái cửa ga ra không còn một chút nào. Một ngôi nhà kiến trúc theo kiểu chắp vá đã được xây lên trên mảnh đất hoang, nối liền vào với ngôi nhà cũ nhìn ra phố chính.
Không thể nào nhìn thấy những khu vườn hoang nát như thế từ trên máy bay, cho dù chúng vẫn còn nhiều, rất nhiều nữa là đằng khác, trong lòng của cái thành phố xinh đẹp này. Thành phố dưới cánh máy bay đang chao nghiêng để chuẩn bị hạ xuống sân bay quốc tế Sydney trông như một sa bàn quy hoạch kiến trúc được làm cẩn thận và tốn kém. Tất thảy nhà cửa đều vuông vức, ngăn nắp như những bao diêm. Những chỗ cần phải có cây thì ắt có màu xanh. Vịnh Botany phẳng lì như một tấm kính sơn màu xanh nước biển đậm và kỹ. Đôi cánh buồm trắng đứng lặng ngắt, trông như những mẩu giấy nhỏ gấp hình tam giác đính vào tấm kính ấy.
***
Gió hình như đã mạnh lên một chút. Thốt nhiên, trên vịnh một bầy thuyền buồm màu sắc sặc sỡ, ưỡn gió đi ra. Chúng kéo ra từ lúc nào vậy nhỉ? Có lẽ là lúc mình đang mải nhìn theo mấy cái máy bay lên xuống để chỉ cho Mít. Thỉnh thoảng, có một chiếc Boeing cỡ lớn cất cánh, tiếng động cơ vọng sang từ bên kia bờ vịnh to hơn hẳn bình thường khiến bé Na đang bò lổm ngổm cũng phải ngẩng lên. Vợ mình khoan khoái ra mặt. Nàng vốn thích biển, nên được ngồi hóng gió biển trong một buổi trưa ấm áp như thế này là một trong những món quà tốt nhất mà mình có thể tặng vợ.
Gió mạnh lên một lúc thì trời có vẻ trong ra. Có thể nhìn rõ từng tòa cao ốc trong trung tâm thành phố cách chỗ này hai mươi cây số. Dưới chân những tòa cao ốc ấy, dù không thể nhìn thấy từ đây, là nhà hát opera, một kiến trúc mang ý nghĩa biểu tượng cho những cánh buồm đi vào vịnh Sydney. Trong đó, có những cánh buồm mang theo hạt giống của hy vọng.
Sydney 28/9/08
Tuesday, October 7, 2008
Chỉ còn
Saturday, September 6, 2008
Đọc thơ cho vợ (2)
Mình nhớ lần đầu nghe bài "Dệt tầm gai" nhạc: Ngọc Đại, lời: thơ Vi Thùy Linh. Ấy là hôm gala SV ở New South Wales Uni. mình đi xem với người iu (ngày nay gọi là vợ, hehe). Bài hát nghe chán òm, dài lê thê, khúc cuối cứ nhai đi nhai lại câu "Dệt đến bao giờ, dệt đến bao giờ..." cả chục lần, nhiều lúc cứ tuởng hết rồi mà nó vẫn cứ hát! Mình quay sang người iu bảo "Hát đến bao giờ, hát đến bao giờ?". Người iu mình phì cười, một cô bé ngồi phía trước nghe lỏm được cũng phì cười. Ngọc Đại với cả Thùy Linh!
Mãi về sau mình mới đọc VTL một cách cẩn thận. Nhớ nhất bài "Từ phía ngày nắng tắt":
"Nơi em ở là phía ngày nắng tắt
Nỗi buồn nhiều như gió
Em ước được thả lên trời như bóng bay…"
Thơ là nơi mà tính võ đoán của ngôn ngữ có đất phát triển mạnh mẽ nhất. Bản thân ngôn ngữ mà ta nói thường ngày đã có sẵn tính võ đoán, tức là khả năng gợi cho người nghe những liên tưởng rồi từ đó đoán đuợc nghĩa của câu; chính những liên tưởng mà nó gợi ra làm cho nó có nghĩa, nó hợp lý, mặc dù về mặt ngữ pháp nó có thể ko hợp lý.
Về mặt ngữ pháp thì "ngày nắng tắt" ko hợp lý bằng "ngày tắt nắng", tức là một cấu trúc hoàn chỉnh chủ ngữ - (động từ) vị ngữ - tân ngữ. Cả hai cách nói ấy cùng gợi lên sự liên tưởng giống nhau về thời điểm một ngày sắp hết, nhưng rõ ràng cách nói "ngày nắng tắt" mới hơn, thơ hơn.
Việc đảo lộn thứ tự các chữ trong câu này khiến mình nhớ lại lần cãi nhau với thầy giáo dạy văn khi học bài "Tiếng hát con tàu" của Chế Lan Viên, hồi lớp 11 hay 12 gì đấy. Bài thơ ấy có câu "Khi ta ở chỉ là nơi đất ở", mình bảo sách in sai, đúng ra phải là "Khi ta ở, đất chỉ là nơi ở", như thế mới khớp với câu sau "Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn"; như thế, chủ thể của cả hai câu mới đồng nhất, đều là "đất". Lúc này, nó đang là thế này nhưng về sau, nó biến thành thế kia. Rõ ràng là logic hơn chứ! Mình cãi cũng có lý nên thầy ko bẻ đuợc, chỉ bảo sách in đúng, nhà thơ làm đúng như thế, thế mới là thơ! Sau đó, mình nghĩ lại thì thấy đúng thật, nhà thơ đã bỏ trống chủ ngữ của vế truớc: Khi ta còn ở đây thì (đất) chỉ là cái chỗ ăn ở (thời nay, cái từ "đất ở" lại càng rõ nghĩa hơn vì nó gắn với "mục đích sử dụng đất" theo Luật đất đai, "đất ở" với "đất sản xuất" là giá khác nhau một trời một vực, hehe). Vế sau thì quá rõ ràng rồi.
Rông dài lạc đề mất rồi. Quay lại với bài thơ nào...
"Nơi em ở là phía ngày nắng tắt
Nỗi buồn nhiều như gió
Em ước được thả lên trời như bóng bay…
…Gió vẫn thổi, buồn phiền không mất nổi
Chỉ còn phía anh thôi
Em không nhớ đã gặp anh bao lần, bất kể khi nắng còn hay đã tắt
Để rồi đêm nay
Em cay đắng khi anh đẩy em bằng ánh mắt!
Ánh mắt anh - không - bay - đuợc"
Sự liên tưởng xâu chuỗi thật nhịp nhàng... Nắng - gió - (bóng) bay... Rồi lộn lại: "Gió - nắng - (ánh mắt) bay". Đã có sự lặp đi lặp lại ba chữ này cho dù ta hầu như ko thể nhận ra, bởi chúng đi cùng nhau rất hài hòa, tạo thành một-khối-từ. Nhưng trong cái nguyên khối ấy, mỗi con chữ lại cựa quậy chứ ko nằm yên. Phải cựa quậy thì thứ tự mới bị đảo lộn như vậy chứ! Cựa quậy vì bức bối...
"Lòng em vỡ"
Bục ra rồi! Bức bối lâu quá thì tất nhiên nó phải bục ra chứ.
"Vỡ vào đêm chỉ thiếu một tháng trăng em tròn 19 tuổi
Em không nhớ đã thả bao nhiêu nỗi buồn buộc bằng tóc rụng
Tóc mỗi năm một mỏng
Em tức tưởi trở về khoảng trời bóng đỏ"
Lối ẩn dụ bắc cầu thật tài tình: Nỗi buồn giống như bóng bay; bóng bay đuợc buộc túm bằng sợi tóc; dẫn đến, "nỗi buồn buộc bằng tóc rụng", bỏ qua trung gian là "bóng bay". "Bóng "bị biến mất trong quá trình ấy, cái quá trình khiến cho "tóc mỗi năm một mỏng" (mà nỗi buồn thì vẫn chẳng thay đổi), chẳng có gì tốt đẹp hơn lên! Điều đó khiến em đau khổ, em tuyệt vọng...
"Em tức tưởi trở về khoảng trời bóng đỏ"
Hình tượng "bóng" bị biến mất trong đoạn trước lại hiện ra, gây một hiệu ứng đúp cho chữ "trở về".
"Bóng chèn nhau
vỡ
Lòng em
vỡ "
Bóng thả lên chật cả bầu trời, chật đến mức chèn cả lên nhau. Mỗi quả bóng là một nỗi buồn. Sao mà có nhiều nỗi buồn đến thế được nhỉ? Hehe...
"Em lầm lũi lại đến truớc nhà anh nhặt xác nỗi buồn, đốt lên thành lửa
Rồi đi
Sau lưng em ngày nắng tắt."
Ba câu này thì quá tài! Giả thử bỏ đi mấy chữ "đốt lên thành lửa", đoạn thơ trở thành:
"Em lầm lũi lại đến trước nhà anh nhặt xác nỗi buồn
Rồi đi
Sau lưng em ngày nắng tắt."
cũng đã là tròn trịa rồi. Nhưng sự đau khổ đã đuợc đẩy lên một mức cao hơn, thành một-đống-lửa-giận, cháy ngùn ngụt.
"Em lầm lũi lại đến trước nhà anh nhặt xác nỗi buồn, đốt lên thành lửa"
Rồi kẻ đốt lửa bỏ đi. Khi cô quay đi thì đống lửa cũng tàn dần.
Tàn lụi theo nó, không phải chỉ là một cuộc tình, mà là tất cả phần sáng của một cuộc đời. Ngày đã tắt.
Thursday, September 4, 2008
Đọc thơ cho vợ (1)
Lâu rồi mình cũng ko đọc thơ. Có lần nghe Hưng kun xui, vào E-văn đọc mấy bài nhưng thấy ko thấm.
Vừa rồi khui ra được cái Thi Viện, đọc phê lòi mắt, nghĩ, sao mà những lời mình nói hàng ngày vô vị thế!
Nhưng mà ko phải bài nào cũng hay. Đọc chùm thơ mười bài của Phan Thị Vàng Anh, thích nhất bài “Ngày lạnh nhất Hà Nội”. PTVA là con Phan Ngọc Hoan tức Chế Lan Viên, sinh ở Hà Nội. Sau giải phóng cả nhà Chế Lan Viên vào SG sống. PTVA sinh năm 68, có nghĩa là cũng biết mùa đông HN chứ ko phải là ko. Nhưng đấy là hồi nhỏ, có thể quên mất rồi. Vì thế vừa đọc cái đầu đề mình đã chú ý. Để xem cảm xúc về mùa đông HN của chị này thế nào nào...
“Phố nhoen nhoét và mưa van vát
Những chiếc taxi bỗng nhiên trở mặt gọi không dừng lại
Tất cả đàn ông trong hàng thịt chó đều mặc áo đen
Hai đốm lửa – hai cái áo len đỏ một góc phòng nhức mắt
Ngày lạnh nhất
Hôm nay đài báo ngày lạnh nhất.”
Hồi bé, ba mình hay giải thích cho mình rằng mỗi bài thơ đều phải có tứ thơ, tức là một câu chuyện, một bài học gì đấy. Hoặc nếu là tả thực thì phải có sự ẩn dụ ví von đặc sắc, kiểu như “ông trời mặc áo giáp đen ra trận”, chứ ko thể có thế nào nói thế ấy, đấy là văn nói, ko phải thơ.
Sau này, đến khi mấy đứa con mình lớn, nếu chúng hỏi “ba ơi, thơ là gì?” có lẽ mình sẽ phải giải thích khác đi một chút.
Phố nhoen nhoét và mưa van vát. Cái hay của thơ không phải chỉ nằm trong sự ẩn dụ. Có khi không cần ví cái A giống cái B mà chỉ cần nói “tôi thấy cái A nó thế này”, nhưng nói “thế này” bằng một từ thật độc đáo nhưng chuẩn xác thì cũng đủ là thơ rồi. Mưa “van vát” là một từ như thế.
Tất cả đàn ông trong hàng thịt chó đều mặc áo đen. Đấy là một câu tả thực, có gì đặc sắc? Nó sẽ chẳng khơi gợi một cái gì cho những ai mà trong đời chưa từng thương một con chó. Chỉ đối với những người thuở bé đã khóc vì con chó nhà mình bị đánh bả hay bị câu trộm thì sẽ hiểu tại sao “tất cả đàn ông trong hàng thịt chó đều mặc áo đen”. Thơ hé mở những nỗi ám ảnh của người viết ra nó.
Vậy thì, cái gì khiến cho nhà thơ thấy “nhức mắt” bởi màu áo len đỏ của hai người đồng nghiệp? Cảm giác khó ở và cáu kỉnh!
“Não đàn bà làm bằng gì mà chỉ nghĩ chuyện tình yêu?
Chụm đầu nghiêm trọng như âm mưu chỉ để bàn về một người đàn ông bé nhỏ?”
Hai câu này thì vứt vào bài nào cũng được. Nhưng cái hình ảnh hai người đồng nghiệp chụm đầu nói chuyện rầm rì cũng ăn nhập với cái không khí mùa đông, lúc mà bản năng mách bảo con người ta ngồi sát nhau hơn để tìm hơi ấm.
“Về thôi
Bóng đèn cuối cùng của chung cư đã cháy
Dò dẫm đi lên những cầu thang ướt như bùn chảy
Cái điện thoại cả tối không một tiếng reng
Trong tay làm một ngọn đèn
Loạng choạng
***
Sao phải chịu mùa đông lạnh nhất ở đây?
Mặc nhiều áo tới nỗi xa lạ với da thịt của chính mình
Phải về nhà thuê chỉ thấy đèn chưa bật
Phải viết nhật ký mỗi ngày chỉ cùng một thắc mắc
Chữ cong queo vì đeo găng?
Nhớ Sài Gòn quá, tựa lưng vào tường mà khóc
Âm thầm thôi, trong đêm chỉ đôi mắt mèo động đậy
Nhớ lúc phong phanh áo mỏng rất gần tim
Nhớ những con hẻm nhỏ ít tiếng nói nhớ những con người lầm lũi...”
Cả đoạn thơ này rất thật, rất sinh động. Khó mà tả sự cô độc một cách sinh động hơn được. Cô độc là khi ta chốc chốc lại ngó cái điện thoại, mong chờ một ai đó gọi điện hoặc nhắn tin, là khi mà mỗi ngày trôi qua ko có gì mới mẻ, ko có gì gợn lên trong trí óc của ta.
“Bước tiếp thôi còn một tầng nữa thôi
Bỗng thấy mình còn sống còn đau còn hạnh phúc
Lại sợ rồi sẽ hết, những ngày này sẽ hết
Hai tiếng nữa thôi, ngày lạnh nhất sẽ qua
Buồn làm sao, chuyện gì rồi cũng thành ấm áp.”
Có lẽ ai cũng đã từng ít nhất một lần trong đời có cảm giác mệt mỏi rã rời, phải đếm từng bước chân để về đến nhà. Lúc ấy, ai cũng thấy đời sao đầy đau khổ, và "còn sống thì còn đau". Nhưng ko phải ai cũng thốt lên được thêm ba tiếng nữa: Còn hạnh phúc.
Và ai chẳng muốn khó khăn, đau khổ qua mau, muốn thấy “sau mưa trời lại sáng”? Lẽ tất yếu là ai cũng hy vọng vào một điều tốt đẹp sẽ đến ngày mai. Nhưng đấy là hy vọng.
Còn cái cảm nhận về thực tại thì có thể khác. Nhất là đối với một nhà thơ. Cảm xúc của họ có thể rung lên ở những cung bậc khác thường. Đối với họ, sự tròn trịa có thể ko đồng nghĩa với cái đẹp.
“Hai tiếng nữa thôi, ngày lạnh nhất sẽ qua
Buồn làm sao, chuyện gì rồi cũng thành ấm áp.”
Điều đó giải thích vì sao cuộc đời của người nghệ sỹ thường có nhiều bi kịch. Chính họ đã tạo ra những góc cạnh sắc nhọn để cứa lòng mình vào cho ứa máu, giống như con chim lao mình vào bụi mận gai, khi một ngọn gai đâm xuyên vào phổi, nó mới có thể hót lên những tiếng hót trong trẻo nhất, mê ly nhất trên đời này.
Wednesday, August 6, 2008
To my daughter (2)
|
PS: Có cả một ban nhạc ve sầu hát cùng với ba đấy!
Sunday, August 3, 2008
At sea
Anh dõi tìm
Nơi chân trời ẩn giấu
Ánh mắt em
Dông bão nghìn ngày đến từ phía bể
Hải đăng em
Chớp
Lóe
Đêm đêm
Đêm
Anh như loài thủy du mệt nhoài quẫy sóng
bơi mê man theo bóng trăng
Ngày
Anh chấm lên chân trời một chấm nhỏ như ánh mắt
Và cầu mong một phép màu chạm vào nó
Khiến nó sáng lên:
Hải đăng em!
Vẫn chờ
nơi biển thấy mình yên tĩnh
Gozashirahama, 2/8/08
Saturday, July 12, 2008
Enjoy cuộc sống
Đầu đuôi là thế này: Cách đây khoảng 2 tháng mình có viết một bài hát tặng vợ, nhan đề "Ngắm trăng". Bài hát như sau:
|
Vầng trăng khuya lẻ loi, vầng trăng khuya lẻ loi,
từng đêm anh vẫn ngóng chờ ánh trăng êm dịu
Trăng,
từ hư không rót muôn ngàn ánh vàng,
như tình yêu chứa chan, tình yêu trong sáng, dâng hiến cho nhân gian.
Riêng mình trăng bao năm vẫn cô đơn!
Ô kìa mây vấn vương, cuốn vào trăng trong mỗi bước trăng đi
Kìa trăng đi vội vã, để muôn ánh sao tuôn trên dòng Ngân
Nhìn trăng anh nhớ em, nhìn trăng anh nhớ em,
vầng trăng soi sáng góc trời giống như gương mặt
Em,
mình xa nhau đã bao ngày tháng dài,
bao ngày em chắt chiu, nhiều đêm thức trắng, lo lắng cho hai con
Mong ngày mai hai con lớn khôn hơn,
chúng mình về với nhau, chúng mình cùng nhau vun đắp tương lai.
Cùng enjoy cuộc sống, hằng đêm ngắm trăng soi trên trời khuya!
Khi viết câu đến câu kết "Cùng enjoy cuộc sống, hằng đêm ngắm trăng soi trên trời khuya", lời của nó tự nhiên bật ra vì đang theo dòng cảm xúc của câu trước đó: Chúng mình về với nhau, chúng mình cùng nhau vun đắp tương lai... Cuộc sống của ai chẳng có vất vả, ai chẳng phải chịu đựng ít nhiều khó khăn về tinh thần, hoặc vật chất, hoặc cả hai? Vợ chồng mình cũng vậy, xa nhau triền miên thế này đâu phải sung sướng gì? Vì vậy chỉ mong học xong sớm sớm rồi vợ chồng con cái quy về một mối, cùng nhau tận hưởng cuộc sống. Từ 'enjoy' trong tiếng Anh dịch sang tiếng Việt là 'tận hưởng' thì sát nhất, nhưng trong bài hát này lại rơi vào hai nốt đô liền nhau nên không dùng được. Chữ 'lo toan' thì khả dĩ hơn: Cùng lo toan cuộc sống... Nhưng cuộc sống mà lúc nào cũng lo toan thì mệt quá! Bí!
Ghi âm bản nháp xong mình gửi Hưng kừng để xem cảm nhận của nó thế nào. Hưng kừng cảm thụ nghệ thuật rất tốt, bất kể là văn thơ hay âm nhạc, và có một thói quen rất hay là nghe xong thì phản hồi ngay. Quả nhiên, một lúc sau nhận được điện thoại của nó. Nó bảo "Nghe được đấy! Phiêu ra phết!". Mình bảo "Tao đang bí chữ enjoy, không tìm được từ nào thay cả". Nó bảo "Cần gì phải thay, cứ để thế mới 'tay chơi' chứ!". Mình nghĩ cũng đúng. 'Enjoy cuộc sống' - chúng đã trở thành một cụm từ đi với nhau rồi. Hồi còn đi học ĐH Kiến trúc, mình đi vẽ thuê ở công ty AT (trước nằm ở góc đường Quang Trung-Nguyễn Du, giờ chuyển đi đâu không rõ). Trong công ty có một thằng trạc tuổi mình, tiếng Anh một chữ không biết nhưng hát karaoke tiếng Anh thần sầu, miệng lúc nào cũng "cuộc sống thì phải enjoy chứ!". Thằng cha hay thật, tên gì mình quên mất rồi.
"Cuộc sống thì phải enjoy chứ!". Chú chỉ được cái nói đúng! Mình phải enjoy cuộc sống thì mới làm cho người khác enjoy được, cuộc đời mới đẹp được.
Mà, nói vậy có đúng không nhỉ? Dostoyevxki có enjoy cuộc sống "Đau khổ, đau khổ và đau khổ!" của ông không? Nếu không thì tại sao văn ông hay thế, đẹp thế?
Wednesday, July 9, 2008
To my daughter (1)

Con gái yêu quý của ba,
Hôm qua ba đã nhận được ảnh của con. Ba thấy con gái của ba đã lớn lên nhiều rồi đấy! Ồ, chẳng mấy chốc nữa đâu, con sẽ lớn và được đi học. Vì vậy ngay từ bây giờ, thỉnh thoảng ba sẽ viết thư cho con để đến lúc ấy, con sẽ tự mình đọc những bức thư này.
Có câu chuyện kể rằng: Có lần Gió đi lang thang khắp thế giới. Đến một vùng nọ, nó đánh rơi một hạt cây xuống một đồi cỏ xanh mướt. Mặt Đất đón lấy cái hạt cây ấy, mang nước uống và sưởi ấm cho nó. Chẳng bao lâu sau, hạt cây nẩy mầm rồi nhú lên khỏi mặt đất. Mặt Trời mang ánh nắng đến cho nó. Thế là nó lớn nhanh như thổi. Đến một ngày nọ, nó nở ra một bông hoa màu vàng rực rỡ, từ xa trông giống hệt một cái mặt trời bé nhỏ. Người ta gọi nó là hoa hướng dương.
Con gái, con chính là một bông hoa hướng dương.
Và mẹ chính là mặt đất, nuôi con khôn lớn mỗi ngày.
Còn ba, ba muốn mình là mặt trời, tuy xa xôi, nhưng luôn ấm áp.
Vì thế, ba mẹ đặt tên con là Chiêu, có nghĩa là “sự tỏa sáng”. Nếu viết bằng chữ Hán, nó có bộ “nhật”, nghĩa là mặt trời.
Khi con còn nằm trong bụng mẹ, ba thường nói với mẹ, ba có linh cảm rằng mẹ sẽ sinh con gái. Con sẽ lớn lên và trở thành một người phụ nữ tuyệt vời như mẹ. Và sẽ hạnh phúc.
Đó luôn luôn là mong ước của ba.
Lúc con ra đời, ba đã cắt rốn cho con - một khoảnh khắc mà ba sẽ nhớ mãi. Có phải từ giờ phút ấy, hình ảnh bé bỏng của con đã in vào tiềm thức của ba? Để rồi, ba, cũng giống như rất nhiều người cha khác, suốt cả cuộc đời sẽ luôn thấy con mình bé bỏng?
Nếu đúng như thế thì đó sẽ là một sai lầm của ba. Con và anh con được sinh ra trong một thế giới mà mọi người có thể kết nối với nhau một cách dễ dàng và nhanh chóng, và do đó sự phân biệt về nguồn gốc, sắc tộc giữa con người với con người sẽ ngày càng mờ nhạt.
Con sẽ là một công dân quốc tế, công dân của một thế giới mà con có thể đến bất cứ nơi nào với rất ít trở ngại. Con thấy không, như thế thì con sẽ lớn hơn ba bây giờ nhiều lắm. Đôi cánh của con sẽ dài và rộng hơn của ba.
Với đôi cánh ấy, hãy bay xa con nhé!
The hay millionaire
Ngày xửa ngày xưa, ở nước Nhật Bản, có một chàng trai nghèo tên là Ta-rô. Hàng ngày, Ta-rô làm lụng chăm chỉ nhưng vẫn không đủ ăn. Một hôm, Ta-rô cầu khấn Phật Bà Quan âm: "Xin Quan âm hãy rủ lòng thương ban cho con một điều tốt lành". Tối hôm đó, Ta-rô đi ngủ và mơ thấy Phật Bà Quan âm nói với mình: "Ta cho con cái này. Sáng mai, hãy cầm nó đi về phía Tây, chắc chắn sẽ gặp điều tốt lành".
Tỉnh dậy, Ta-rô thấy trong tay mình một cọng rơm. Nhớ lời Quan âm, chàng nhằm phía Tây lên đường. Đi đường một mình cũng buồn nên chàng bắt một con ruồi buộc vào đầu cọng rơm để chơi. Đi được một lúc, chàng gặp một thiếu phụ đang bế một đứa trẻ con. Đứa trẻ khóc ngằn ngặt, bà mẹ dỗ thế nào cũng không chịu nín. Thấy vậy, Ta-rô bèn giơ cọng rơm buộc con ruồi cho nó xem. Đứa bé thấy con ruồi bay vo ve thích lắm, nín khóc ngay. Bà mẹ bèn nói với Ta-rô: "Anh cho con tôi cọng rơm ấy nhé!". Ta-rô đưa cọng rơm cho đứa bé. Bà mẹ vui mừng, cảm ơn Ta-rô và lấy trong túi ba quả cam tặng chàng.
Ta-rô cầm ba quả cam tiếp tục đi về phía Tây. Đi được một lúc, chàng thấy một người hầu già và một cô gái đang ngồi bên đường. Cô gái hình như đang bị ốm nên người hầu già tỏ vẻ rất lo lắng. Ta-rô bèn hỏi sự tình, người hầu già trả lời: "Cô chủ khát nước quá, đường thì còn xa mà quanh đây chẳng chỗ nào có nước cả". Nghe thế, Ta-rô bèn đưa cho cô gái ba quả cam. Ăn hết ba quả cam, cô gái khỏe ngay. Người hầu già mừng quá, lấy ra một chiếc khăn lụa rất đẹp tặng Ta-rô.
Ta-rô cầm chiếc khăn lụa, cảm ơn cụ già rồi lại tiếp tục đi về phía Tây. Đi được một lúc thì trời sắp tối, Ta-rô thấy bên đường có một samurai ngồi bên cạnh con ngựa đang nằm im, mắt nhắm nghiền, trên người có rất nhiều vết thương. Thấy Ta-rô, samurai gọi lại bảo: "Ta cho ngươi con ngựa này. Hiện giờ, nó đang bị ốm, nhưng nó là một con tuấn mã đấy! Đổi lại, ta sẽ lấy cái khăn của ngươi". Nói dứt lời, samurai liền trao dây cương cho Ta-rô, giật lấy chiếc khăn của chàng rồi bỏ đi, không để Ta-rô kịp nói một lời nào.
Thương con ngựa tội nghiệp, suốt đêm hôm đó, Ta-rô đốt lửa sưởi ấm và lấy nước rửa các vết thương cho nó. Đến sáng, khi mặt trời vừa mọc thì con ngựa mở mắt, vươn mình đứng dậy. Thấy Ta-rô, nó cất tiếng hí vang. Ta-rô vui mừng dắt con ngựa đi về phía Tây. Đến trưa, cả hai đi vào một thị trấn đông đúc. Lúc Ta-rô dắt ngựa đi qua cổng một ngôi nhà lớn, người gác cổng gọi lại bảo: "Con ngựa của anh đẹp lắm. Ông chủ tôi rất thích ngựa. Anh đứng chờ ở đây một lát để tôi gọi ông chủ nhé!". Một lát sau, ông chủ đi ra, ngắm nghía con ngựa một lúc rồi bảo: "Anh đổi cho ta con ngựa này lấy mười mẫu ruộng nhé". Ta-rô mừng quá, liền đồng ý.
Sau khi có ruộng, Ta-rô lại càng chăm chỉ làm lụng, cày cấy trên mười mẫu ruộng ấy. Kết quả, càng ngày càng trở nên giàu có và hạnh phúc. Chàng Ta-rô ban đầu chỉ có một cọng rơm, về sau trở thành triệu phú. Vì thế, người đời gọi chàng là "Triệu phú cọng rơm".
Ask mum

- Thế giới là gì hở mẹ?
- Là đường tàu có nhiều ga
****
- Quê hương là gì hở mẹ?
- Là nơi có mẹ, có ba
****
- Suy nghĩ là gì hở mẹ?
- Là giống như mở gói quà
****
- Đến trường làm gì hở mẹ?
- Để chơi với các bạn mà!
****
- Con sẽ đi khắp thế giới
Nhưng con vẫn nhớ quê hương
Con sẽ tự mình suy nghĩ
Và luôn thích được đến trường!
