Showing posts with label Văn vở. Show all posts
Showing posts with label Văn vở. Show all posts

Saturday, January 16, 2010

Haiku (4)

Nướng buổi sáng thơm bùi trong chăn ấm
Mơ thấy mình tự lột vỏ
Tinh tươm.

Saturday, December 26, 2009

Haiku (3)

Thấy nắng
Người hàng xóm mang chăn hoa phơi trước ban công
Những bông hoa héo rũ.

Friday, December 4, 2009

Haiku (2)

Có ai mua không?
(tôi bán rẻ)
Giấc mơ vinh hiển, giàu sang.

Sunday, November 29, 2009

Huy Bầu truyện

Ở quận Quế phía tây kinh thành có chàng thư sinh họ Huy tên Bầu, tuổi ngoại ba mươi mà vẫn lẽo đẽo nghề đèn sách. Bấy giờ sắp tới kỳ tốt nghiệp, chàng thường ở lại trong lab chong đèn gõ phím đến khuya, mệt quá thì rải sofa ra ngủ, có bận năm sáu hôm liền không về nhà.

Một bữa mưa rét, chàng tắt đèn lên chuồng sớm hơn thường lệ. Vừa thiu thiu được một lúc, chợt có tiếng động khiến chàng thức giấc. Chàng nhìn quanh quẩn, rủa thầm đứa nào phá giấc ngủ của ông. Đoạn đứng dậy, xỏ dép khoác áo cừu đi ra ngoài.

Bên ngoài, hành lang tối om. Gió bấc rít lên từng đợt khiến chàng ớn lạnh.

Chàng líu ríu đi về hướng có ánh đèn lọt ra từ khe cửa một phòng nằm cuối hành lang.

Chàng gõ ba tiếng, đợi một lúc. Không thấy ai ra mở, chàng khẽ xoay nắm đấm, hé cửa nhìn vào trong.

Trong phòng đèn đuốc sáng choang, ti vi mở oang oang, một cô gái đang nhún nhảy trước màn hình. Thấy Huy thò đầu vào, cô gái ngưng phắt lại, nhìn chàng dò xét.

- Xin tiểu thư thứ lỗi - chàng nói - Tôi ở lab bên cạnh, nghe tiếng động không ngủ được, mới tìm đến đây. Dám hỏi tiểu thư có thể vặn nhỏ máy thu hình một chút được không?

- Ồ, được thôi - cô gái nói, đoạn lấy điều khiển, chỉnh giảm âm lượng - Mà này, anh ở lab bên cạnh, sao tôi chưa bao giờ gặp anh nhỉ?

- Phải rồi, sao tôi chưa gặp cô lần nào nhỉ? Trong khi hai phòng nằm sát vách nhau...

Chàng nhận ra cô gái rất xinh đẹp. Da mặt cô trắng như sáp, mũi thẳng thanh tú, miệng hàm tiếu chúm chím.

- Hôm nay cô ngủ lại, không về nhà ư? Công việc hẳn là rất bận? – chàng đánh bạo hỏi chuyện.

- Nhà của tôi ở đây thây – cô nói.

- Ừ, phải rồi – chàng nói – Người Nhật vẫn thường lấy công việc làm niềm vui, lấy công sở làm nhà mà.

- Anh uống trà không? Tôi vừa pha một ấm trà huyền mạch...

- Tuyệt quá, nếu thế cho tôi xin một chén – chàng nói.

Huy đỡ lấy chén trà từ tay cô gái, nhấp một ngụm, thấy nước lạnh ngắt.

- Hôm nay rét quá nhỉ, trà mới pha đã nguội tê thế này – chàng nói.

Cô gái không nói gì, chỉ nhìn Huy cười.

Huy thấy trên bàn có cuốn “Cơ học đất giải tích”, lấy làm lạ, bèn hỏi:

- Tiểu thư cũng làm về cơ học đất ư? Cho tôi xem qua được không?

Cô gái đưa sách cho Huy. Chàng giở nhanh mấy trang, rồi bảo:

- Sách hay lắm. Dám hỏi tiểu thư cho tôi mượn về vài hôm được không? Xem xong tôi sẽ giả lại ngay.

Cô gái gật đầu ưng thuận. Chàng thấy cô thật khả ái.

Lúc đứng dậy ra về, Huy hỏi:

- Dám hỏi quý danh của tiểu thư?

- Họ của em là Yanma – cô gái nói.

Qua mấy hôm, photo xong, Huy mang sách sang tính trả lại cho cô gái. Lúc chàng đến, một thiếu niên ra mở cửa.

- Dám hỏi Yanma tiểu thư có ở đây? – chàng nói.

- Ai cơ? – Thiếu niên hỏi.

- Yanma tiểu thư – chàng nhắc lại.

- Yanma tiểu thư? Để tôi vào hỏi lại tiền bối. Xin ông chờ cho một lúc – Thiếu niên nói, đoạn quày quả đi.

Lát sau, thiếu niên quay lại cùng với một đại hán.

- Anh hỏi Yanma nào? – Đại hán nói.

- Tôi không rõ tên, chỉ biết họ của cô ấy. Đây, tên của cô ấy đây – chàng vừa nói vừa mở trang đầu cuốn sách, chỉ cho đại hán xem chữ ký.

- Yanma Akai – Đại hán đọc to, đoạn ngẩng lên nhìn Huy, vẻ ngờ vực – Sách này ai cho anh mượn thế?

- Chính cô ấy cho tôi mượn hôm kia. Nếu hôm nay cô ấy không đến thì phiền anh chuyển giúp tôi sau, được không? – Chàng nói.

- Không được đâu!

- Sao vậy? – Chàng ngạc nhiên – Mà thôi, không dám phiền anh nữa. Để hôm khác tôi lại sang.

Đại hán ngập ngừng một lúc, cuối cùng bảo Huy:

- Có lẽ anh không cần trả nữa đâu. Ba năm trước, cô ấy chết rồi.

Huy Bầu giật nẩy mình, cuốn sách trên tay rơi bịch xuống đất. Từ giữa trang sách, tuột ra một cái xác ép chuồn chuồn, màu đỏ như máu.

Friday, November 13, 2009

Haiku (1)

Ngồi ở ban công
Mưa đỏ. Chấn song. Lục lạc
Ư ử hát. Đợi mùa đông

Friday, November 6, 2009

Hào truyện

Đây là một bí mật của Cảnh Hào, bạn mình. Vì là chuyện cực bí mật nên Hào chỉ kể cho mỗi Diện thú, cũng bạn mình. Diện thú sau đó kể riêng cho Hoàng trọc, bạn mình nốt. Hoàng trọc kể lại cho mình, dặn giữ bí mật. Mình giữ lời hứa, không kể cho ai, chỉ biên lên đây, hy vọng chẳng ai đọc được. Chuyện như thế này:

Một bữa, chẳng nhớ bữa nào, giáo sư đi vắng, còn một mình Hào trong lab. Đang lướt nét xem Hustler, mới cả Penhouse, mới cả Met-art, bỗng điện thoại đổ chuông dồn dập. Đầu dây bên kia, tiếng em Kai hổn hển:
- Anh sang ngay nhé!
Hào mừng khấp khởi:
- Chuyện gì hot thế?
Em Kai nói:
- Cứ sang thì bít!
Hào vội vàng tìm quần mặc vào rồi xuống nhà lấy xe máy, phi một mạch đến chỗ trọ của em Kai.

Hào đến. Em Kai đón Hào ngoài cổng rồi dắt ra sau vườn. Hai người ngồi xuống bãi cỏ. Em Kai chỉ vào mấy khóm cúc mọc lung tung beng ở chân hàng rào, bảo Hào:
- Trưa nay, lúc em ngủ dậy, thấy hoa cúc nở trong vườn, bỗng xúc cảm nhớ đến một kỷ niệm của thời thiếu nữ. Lần ấy, cũng vào một dịp đầu thu như thế này, mùa thu Hà Nội, anh biết rồi đấy, mùa thu Hà Nội đẹp biết bao! Em nghĩ mùa thu Hà Nội đẹp hơn Kyoto nhiều. Em cũng rất thích Kyoto vì nó có nhiều con phố đẹp, xe cộ đi lại rất trật tự, giao thông rất an toàn. Giao thông ở Nhật thì số một thế giới rồi anh nhỉ, tàu shinkansen của nó chạy êm thôi rồi anh nhỉ. Hôm trước em đi tàu shinkansen, để cốc cà phê trên bàn, chạy từ Tokyo về Kyoto mà không sánh ra giọt nào anh ạ. Vì thế, em mới nảy ra ý nghĩ rủ anh sang uống cà phê!

Hào nghe mê mẩn, chân bước vô thức, theo em Kai vào tiểu đình, thấy trên bàn đã bày sẵn một bộ ấm pha cà phê, hoa văn lem nhem, biết ngay là đồ quý. Em Kai bảo, đây là vật gia bảo truyền đời của dòng họ, có niên đại từ thời Dân chủ cộng hòa. Thời ấy người ta không pha cà phê bằng phin, mà dùng ấm, thật là tao nhã. Nói đoạn đứng dậy, bỏ xu vào vending machine, bấm choách choách. Hào nghe độp độp hai nhát, rồi thấy em Kai lôi ra hai lon cà phê Georgia nâu bóng, đưa cho Hào một lon.

Đôi trai gái cùng nhau nâng lon khề khà thưởng thức.

Uống được nửa chừng, bỗng trên không mây kéo đen kịt. Em Kai trỏ tay lên không nói:
- Có rồng lấy nước!

Hào nói, "Ờ, rồng lấy nước".

Em Kai hỏi, "Anh Hào có rõ phép biến hóa của rồng chăng?"

Hào nói, "Không rõ".

Em Kai nói:
- Con rồng biến hóa có khi to, khi nhỏ, lúc cứng, lúc mềm. Khi vươn mình to lớn thì cuộn mây, phun mù. Khi thu hình nhỏ bé để tàng hình ẩn tích. Con rồng trong loài vật cũng ví như người anh hùng trong đám người. Anh Hào từng đi đây đi đó nhiều, chơi khắp bốn phương, ắt rõ những ai là anh hùng thời nay?

Hào nói, "Anh chỉ là người trần mắt cận, làm sao nhận biết được anh hùng?".

Em Kai nói, "Thôi, xin đừng quá khiêm như thế!"

Bấy giờ, Hào mới làm bộ suy nghĩ, rồi kể ra:
- Nam công chúa ở Tây Thụy, có bằng tiến sỹ Nhựt, biết quần ten nít, biết đánh cầu lông, có thể gọi là anh hùng?

Em Kai cười nói, "Như thế khác gì Xuân tóc đỏ? Đấy không phải anh hùng".

Hào lại nói:
- Diện thú ở mạn Seiyu, assmin trang Press, cao to đen hôi, sao đang nổi của KyotoFC, có thể gọi là anh hùng?

Em Kai lại cười nữa, "Đã là gì so với Công Vinh? Không phải anh hùng!".

Hào lại suy nghĩ giây lát rồi nói:
- Huy bầu ở Katsura, chủ lốc enjoycuocsong, có cả facebook, biết đánh ghi ta, có thể gọi là anh hùng?

Em Kai lắc đầu, "Biên lốc nịnh vợ, mở book khoe con, đánh đàn như xẩm mù, có qué gì đâu mà gọi là anh hùng?".

Hào lại nghĩ một lúc lâu, rồi nói: "Ngoài những người vừa kể, anh chẳng biết có ai nữa".

Em Kai nói:
- Người anh hùng ấy à? Phải là người nuôi chí lớn trong tim óc, có mưu cao kế giỏi, có tài trùm vũ trụ, có chí nuốt trời đất, ấy mới đáng mặt anh hùng chứ?

Hào hý hửng hỏi:
- Ai là người được như thế?

Em Kai bẩu:
- Chẳng ai cả. Đừng có tưởng bở!

Lúc ấy, trời sắp đổ mưa, bỗng có một tiếng sấm nổ ran.

Hào lơ đãng nhìn lên trời, lon cà phê cầm trên tay nghiêng đổ.

Em Kai bảo, "Ây, ây, đổ đổ đổ!"

Hào từ từ cúi xuống, lấy tay kéo vạt quần vừa bị cà phê đổ vào, nói:
- Chết cha! Không biết giặt có đi không...

Em Kai bảo, "Xà phòng Omo tẩy sạch 99 vết bẩn".

Nói xong, lại lon ton chạy ra vending machine bấm choách choách, mang vào cho Hào một lon khác.

Em Kai biết đâu, Hào đã cố tình làm đổ cà phê để che đậy việc sợ sấm vãi ra quần của mình, hố hố hố...

Saturday, October 24, 2009

Hạo Nguyên

Là tên thằng cu con, con Thắng râu bạn mình, vừa mới chào đời hôm qua. Mẫu thân nó họ Lý, gốc Hoa giống mình ^ ^, nên đặt tên con đẫm chất Tầu, giống tên con mình ^ ^.

Mừng cháu ra đời khỏe mạnh, tặng cháu yêu một bài thơ:

夜半生浩原
朝辉日上天
露气闻芳草
歌声识桂川

Phiên âm:

Dạ bán sinh Hạo Nguyên
Triêu huy nhật thướng thiên
Lộ khí văn phương thảo (*)
Ca thanh thức Quế Xuyên! [1]

Dịch thơ:

Nửa đêm, sinh Hạo Nguyên
Sáng sớm, mặt trời lên
Đồng cỏ thơm ngào ngạt [2]
Sông Quế nhạc vang rền! [3]

Ghi chú:
(*) Mượn tạm của bạn Mạnh Hạo Nhiên đời Đường (bài Dạ độ Tương thủy).
[1] Quế Xuyên: Sông Katsura, đọc theo âm Hán.
[2] Theo Lý mẫu, Hạo Nguyên có nghĩa là cánh đồng cỏ rộng lớn, thường thấy ở nơi đăng ký hộ khẩu của Thành Cát Tư Hãn.
[3] Nhạc do các bạn của bố cháu uýnh. Thắng râu bố cháu là ranh ca của ban nhạc Katsura Knights đới, đừng có đùa!

Thursday, October 1, 2009

Văn tế xe máy

Hỡi ôi!
Dẫu biết tạo hóa có sinh thời có diệt
Mà lòng sao không khỏi đau thương!

Mới hôm qua:
Đôi ta bước thấp bước cao, lọ mọ con cú trở về, lúc tiếng mõ canh ba vừa điểm
Đèn đường khi mờ khi tỏ, run rẩy lá vàng chợt rụng, giữa cơn mưa sùi sụt đầu thu

Thật là:
Lịch duyệt phong sương, lối lên lab đã trở nên thân thuộc
Giãi dầu mưa gió, đất kinh thành còn mấy chỗ chưa qua?
Đường số 9, phố Shijo, quán xá nhác trông đà hoan hỉ
Dốc Ngự lăng, khu học viện, thầy trò vừa thấy đã tươi hoa
Mạn dưới Uji, nghe thoang thoảng tiếng bô đầu xóm, dân gian liền mở rượu khui bia
Nẻo trên Nông nghiệp, thấy long lanh biển số cuối làng, bách tính vội xóc bài trải chiếu!

Nhớ ngươi xưa:
Dung tích nhõn năm chục xê xê, nhưng khi đã xuống đường rồ máy, nhẽ đua cùng xe khách Nghệ An
Vai ngang không quá nửa thước dài, gặp phải hôm đất chật xe đông, luồn lách tựa công nông Thanh Hóa
Năng lực đánh bóng mặt đường, chiến hữu ai dám bỉ bai?
Tiến thoái ứng biến tùy cơ, công an nào dám dậm dọa?

Cho nên:
Tuy mua về chỉ hai man rưỡi, cộng mấy nghìn tiền phạt đỗ xe, tấm thân ngươi thực đáng giá ngàn vàng
Cùng tớ ruổi rong hăm bảy tháng, bước công danh còn có nửa năm, ai ngờ nỗi giữa đường gặp họa?

Thương thay:
Trời già nỡ phụ người hiền, để cho ngươi đụng mặt bọn chôm xe
Khi chung quanh tất cả đều hai, chỉ có mỗi thân ngươi là một khóa
Hiềm vì khóa cổ mong manh, gặp phải thằng đá xế lõi đời, nên phút chốc tan ngọc nát vàng
Chỉ tiếc sinh thời mã thượng, phút chia phôi không thấy được nhau, dẫu chỉ nói một lời thôi cũng thỏa!

Monday, September 7, 2009

Nam công chúa truyện

Nam công chúa họ Lê, tên tục rất bậy, người làng Đình Bảng. Làng ấy phong cảnh hữu tình, có cây có cối, vốn là chỗ địa linh nhân kiệt. Lúc công chúa ra đời, trên trời xuất hiện một ngôi sao to, người thường nhìn vào thì thấy chói lóa, người mù thì không sao, dân gian gọi là mặt trời. Nam công chúa lớn lên dung mạo kỳ vĩ, hai mắt nằm ngang nhau, mắt không nhìn thấy tai, mũi cao hơn miệng, miệng có hai môi, môi lớn môi bé tách bạch. Có người thầy bói xem tướng Nam, nói: "Người này về sau tất đỗ Tiến sỹ". Ấy là đang nói đời xưa, cả thiên hạ mỗi năm mới có một vị tiến sỹ, chứ bây giờ tiến sỹ nhiều như lợn con, nhưng đấy lại là chuyện khác, ở đây không nói đến.

Nam công chúa đến tuổi trưởng thành, thấy thiên hạ loạn lạc, bọn gái ngon như Vàng Anh Hoàng Thùy Linh đều rơi vào tay dân chơi như Cường đô la, Việt đát, bèn lấy làm uất ức, ở nhà đóng cửa đọc sách suốt một năm trời, rồi đem hết sở học viết nên một cuốn, gọi là "Tán gái chân kinh". Năm sau, Nam mang sách đó đi về phía Tây, du thuyết vua Thái. Vua Thái nói: "Người Thái ta từ xưa tới nay sống nhờ kỹ nghệ sex, không đi dạy thiên hạ thì thôi chứ thiên hạ làm sao dạy được người Thái". Nam nghe thế, chán hẳn, bèn bỏ ý định thuyết phục Thái Vương.

Nam công chúa đi về phía Đông, gặp Nhật hoàng, nói chuyện với Nhật hoàng hai ngày hai đêm không nghỉ, sắc mặt buồn ngủ. Nhật hoàng nói: "Một nước không biết dùng người tài tất mang họa diệt vong", rồi ban cho Nam giấy gọi đi thi lấy học bổng du học Nhật Bản.

Nam lĩnh giấy ấy, nửa mừng nửa lo. Tối đến, nằm mơ thấy một vị thần. Nam hỏi: "Xin thần linh mách nước đề thi". Vị thần nói: "Thiên cơ bất khả lậu". Nam tỉnh dậy, nhớ lại lời vị thần, lấy làm đắc chí.

Bấy giờ, trong thiên hạ bệnh cúm gà, cúm lợn hoành hành. Vì thế đề thi năm ấy chủ yếu hỏi về cách phòng chống dịch bệnh. Nam công chúa nhờ biết đề từ trước, vào đến phòng thi liền phóng bút viết một bài, ngôn ngữ hào hùng, ý tứ mạch lạc: "Khi xưa, các bậc hoàng đế thường có nhiều vợ. Vợ cả thì lập làm hoàng hậu, thứ đến là các phi. Dưới các phi là bọn cung tần mỹ nữ, gọi là cơ, tức là một dạng bồ nhí. Cổ nhân có câu "Thiên cơ bất khả lậu", thiên là trời, thiên cơ là bồ nhí của trời. Suy ra, câu ấy có nghĩa là "Làm bồ nhí của trời thì không thể mắc bệnh lậu"". Nhật hoàng xem bài thi của Nam, mừng rỡ, bèn sắm một trăm cỗ xe đưa Nam về kinh đô.

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, Nam công chúa ở kinh đô hơn hai năm vẫn chưa được vào yết kiến Nhật hoàng, lấy làm buồn bực, bèn bắt chước Thái công Vọng khi xưa, mang cần câu ra ngồi trước siêu thị điện máy Midori câu cá. Một bữa Nam đang lểnh mểnh bên hồ, lòng ngổn ngang trăm mối u buồn, bỗng thấy một ông già đi ngang qua cầu, làm rơi chiếc dép xuống nước rồi kêu Nam: "Tiểu tử, lại đây lượm chiếc dép cho ta". Nam công chúa thấy ông lão có dáng tiên phong đạo cốt , biết không phải người thường liền bước đến, cúi lượm chiếc dép trao cho ông lão rất kính cẩn. Ông lão xỏ chân vào dép rồi lại đánh rơi xuống nước. Nam nhặt, cứ thế đến ba lần, cử chỉ kính cẩn không hề tỏ ý bất mãn. Ông lão mỉm cười nhìn Nam nói : "Bọn Seiyu bán toàn dép Tàu, đểu thật, cứ đi vào lại tụt". Nói xong phất áo đi thẳng.

Nam công chúa ở tu viện, lúc rảnh rỗi thường ra sau vườn tập ném bóng. Trong vườn dựng sẵn mấy cái cột cao, trên đỉnh lắp một cái vòng tròn bằng sắt, cỡ to hơn đầu người. Nam tập ném mãi mà không vào được vòng, bèn quỳ xuống khấn lạy. Khấn vừa dứt lời, một vị thần lập tức hiện ra, chính là ông lão hôm nọ. Ông lão nói: "Muốn ném vào được thì tay trước hết phải dẻo", nói đoạn dùng quạt điểm vào mấy huyệt trên tay Nam. Nam mừng rỡ, nhặt bóng ném tiếp, vẫn không lọt. Ông lão lại nói: "Tay dẻo mà tâm không định thì cũng vô ích. Xem ta làm mẫu mà làm theo". Ông lão nhắm mắt thở sâu một lúc, đoạn đưa tay nhặt lấy trái bóng, phất một cái. Cũng không lọt. Ông già chán quá, tỏ ý muốn bỏ đi. Nam nói: "Đội ơn sư phụ. Sư phụ lượn cho trong nước!", rồi quay ra tập một mình.

Nam công chúa kiên trì tập luyện, ngày chơi đêm nghỉ, cứ thế được một năm thì công lực đạt đến mức thượng thừa, ném mười quả có khi vào được một hai quả, từ đó trở nên nổi tiếng khắp vùng.

Câu chuyện Nam công chúa khổ luyện thành tài lưu truyền trong dân gian, nên mới có câu: "Con trâu là đầu cơ nghiệp".

Lại nói, khi ở tu viện, Nam công chúa kết bạn với bọn Huy bầu, Diện thú, chơi bời với nhau rất tâm đắc, năm ngày một hội chắn, ba ngày một hội phỏm. Chuyện này sử sách đã nói nhiều, nay không nói đến nữa.

Sang năm thứ ba, có người thương gia thấy Nam cốt cách phi phàm, bèn về bàn với vợ, muốn đem con gái gả cho Nam. Bà vợ nói: "Tên Nam từ trước tới giờ lăn lóc trong giang hồ, thân thể ô uế, muốn cưới con gái ta thì phải trai giới ba tháng. Trong ba tháng ấy chỉ được ăn cháo trộn xúc xích, tối đến phải ngủ lại chùa không được về nhà. Nếu phạm vào một trong hai điều ấy thì coi như hỏng". Nam nghe theo lời ấy, cuối cùng lấy được vợ.

Đời sau có thơ ca tụng chuyện này:
"Nước sông cuồn cuộn chảy về đông
Sóng vùi dập hết anh hùng
Canh bốn canh năm vừa chợp mắt
Cá đâu đớp động dưới ao bèo"

Nam công chúa lấy vợ được một tháng, một hôm người vợ nói: "Chàng là giống rồng, thiếp là giống tiên, phải xa nhau một thời gian thì về sau mới được trọn vẹn". Nam nói: "Lạc Long Quân và Âu Cơ có thể ly dị chứ ta với nàng thì không. Nàng muốn đi đâu thì tùy, ta sẽ đi cùng nàng".

Trời nghe thấy chuyện ấy, cảm động vãi nước mắt. Vì thế ngày nay, vào khoảng tháng bảy âm lịch thường có mưa dầm, đường xá loét nhoét, đi lại khổ thấy mẹ, hehe...

Tuesday, September 1, 2009

Thu về


Gió gặp mây trắng,
- Anh có thấy mùa hạ biến đi đâu rồi không? - Gió hỏi
- Xin lỗi nhé - Mây nói - Tôi rất vội
Tôi đang phải chạy đuổi
Cho kịp mùa thu.

Friday, August 21, 2009

Thăm Yasukuni

(Đền Yasukuni là nơi tưởng niệm những người lính Nhật chết trận. Ngôi đền nổi tiếng do việc thờ phụng một số nhân vật được (một số quốc gia như TQ và Hàn Quốc) coi là tội phạm chiến tranh.)

Lịch sử chặn tôi lại trước cửa soát vé
- Cậu có lòng yêu nước không? - nó hỏi
Tôi nói, tôi có đủ.
- Cậu có lòng dũng cảm không?
Tôi nói, tôi có đủ.

Lịch sử dẫn tôi đi suốt mấy tiếng đồng hồ
Chỉ cho tôi những sự biến
Những khoảnh khắc lòng tự hào bị thách thức
Sự cuồng tín lên ngôi và những chủ nghĩa ra đời!

Tôi chỉ thấy những người mẹ khóc.

Lịch sử nói một cách khinh mạn
Bày biện những chứng tích như đứa trẻ chơi đồ hàng
Thỉnh thoảng lại lỡ tay đánh đổ
Vài biển máu

- Họ đã chết trong danh dự - trỏ vào ảnh các vị anh hùng, nó nói
Họ đã được chết vì thiên hoàng
Thiên hoàng vạn tuế!

- Còn những người đã chết dưới tay họ thì sao? - tôi hỏi
- Vì thiên hoàng! - nó nói
Thiên hoàng vạn tuế!

Lịch sử tiễn tôi qua cửa soát vé
Xoa đầu tôi vui vẻ

Ra khỏi cửa tôi mới giật mình
Có kẻ đã móc túi vét sạch lòng yêu nước của tôi
Và lòng dũng cảm của tôi cũng thế.

Tokyo, 20/8/09

Saturday, August 15, 2009

Kaz (14) - Yoiyama

Mùa mưa đến vào khoảng sáu giờ chiều, trong lúc tôi đang làm thí nghiệm ở dưới tầng hầm. Gọi là tầng hầm, nhưng tầng này không nằm dưới mặt đất. Nó được gọi như thế chỉ vì nó nằm dưới tầng trệt, có cổng chính đi vào tòa nhà và phòng giáo vụ. Tòa nhà, nói chính xác hơn là một tổ hợp gồm nhiều tòa nhà liên thông với nhau, nằm trên một mỏm đồi đã được phạt đi một góc để lấy mặt bằng xây dựng. Ngoại trừ một bức tường chắn đất cao bằng bốn tầng nhà ở cuối bãi đất trống rất rộng hiện đang là bãi đỗ xe nhưng vài năm nữa sẽ mọc lên tòa nhà của khoa Công nghệ thông tin, không còn một chút dấu vết gì của quả đồi mà, theo như cái tên "Ngự Lăng" của nó, dường như đã có một thời là nơi chôn cất của một vị vua. Cái bến xe buýt nằm trước học khu có tên là bến Đồi Ngự Lăng, nhưng bọn sinh viên thường gọi nó bằng cái tên khác đơn giản, dễ hiểu hơn: Bến "Khu C", để phân biệt với bến "Khu A" liền trước đó. Từ bến xe buýt, phải leo một cái cầu thang dài, to tướng mới đến được sảnh chính. Trước sảnh có một bãi cỏ vuông vức, mỗi chiều rộng khoảng hai chục mét, bốn góc trồng bốn cây long não non, nghe nói được chiết ra từ cây long não cổ thụ ở học khu chính, học khu Yoshida.

Học khu Katsura, nơi tôi làm việc, là cơ sở mới của Đại học Kyoto. Hai năm trước, phòng nghiên cứu của tôi, cũng như tất cả các phòng nghiên cứu khác thuộc khoa Engineering đã phải làm một cuộc dọn nhà về đây khá phiền phức kéo dài gần hai tuần lễ. Chưa hết, sau đó chúng tôi còn phải rất nhiều thời gian để lắp đặt các thiết bị thí nghiệm và kết nối chúng với hệ thống cung cấp áp lực chung của cả khu. Công việc này phải tuân theo nhiều quy trình, thủ tục nghiêm ngặt và chúng tôi phải phụ thuộc vào một số bên khác, thường là các công ty đã tham gia xây dựng tòa nhà, vì thế công việc tiến triển rất chậm. Mãi đến đầu năm nay, nghĩa là sau gần một năm kể từ khi dời về đây, chúng tôi mới bắt đầu lại chương trình thí nghiệm đã bị bỏ dở trước đó. Điều này tất nhiên có ảnh hưởng xấu đối với tiến độ nghiên cứu của cả phòng, nhưng bù lại, chúng tôi có được một phòng thí nghiệm tối tân, trang bị đồng bộ nhất loạt. Nó giống như một chiếc xe Mercedes đời mới, trong khi phòng thí nghiệm của chúng tôi trước đây ở Yoshida là một chiếc xe ngựa. Nó còn là một nơi trú ẩn tuyệt hảo, với nhiệt độ được duy trì ở hai mươi độ, cố định, liên tục và vĩnh viễn. Một khi đã chui vào đó, người ta mất khái niệm về thời tiết, ngày và đêm.

Tôi đã bỏ lỡ cơn mưa mùa đầu tiên. Khi tôi ra khỏi tầng hầm, nó đã tạnh. Trên mặt đường bê tông chạy xung quanh tòa nhà, dấu vết còn lại của nó là một lớp nước mỏng, đôi chỗ đã lốm đốm khô. Mùa mưa thường kéo dài khoảng vài ba tuần, có khi một tháng. Trong khoảng ấy, hầu như ngày nào cũng mưa. Những cơn mưa thường bắt đầu vào lúc chập tối, và rả rích suốt đêm. Một kiểu thời tiết khiến chẳng ai muốn ra đường vào buổi tối.

Sang tuần thứ hai của mùa mưa, Ayumi nhắn tin cho tôi: "Gion matsuri.Tối nay là yoiyama đấy! Chúng mình sẽ đi chứ? Có cả mấy người bạn của em ở công ty nữa". Tôi nhìn ra ngoài. Trời vẫn mòng mọng nước. Chắc đến tối lại mưa thôi! Nhưng Gion matsuri thì năm nào chả mưa? Tôi nhắn tin trả lời Ayumi, hẹn nàng ở cửa ga Hankyu Karasuma.

Đó là một điểm hẹn thuận tiện vào những ngày thường, nhưng lại cực kỳ bất tiện vào một ngày hội lớn như lễ hội Gion. Nhà ga đầy ắp người, không còn lấy một chỗ trống để đứng chân. Hàng đoàn, hàng đòan người kéo nhau ra khỏi cửa ga như thác lũ, hết đợt này đến đợt khác. Tôi đến sớm, loanh quanh một lúc mới kiếm được một chỗ không quá xa cửa ga và khá dễ tìm, đứng đợi Ayumi. Khoảng mười phút sau thì nàng đến. Cùng đi với nàng còn có ba người nữa. Hai cô gái Nhật và một anh Tây. "Inoue-san, Suzuki-san và Graham-san, người Mỹ", Ayumi giới thiệu. "Cứ gọi tôi là Matt", anh chàng người Mỹ nói, và nở một nụ cười làm quen. Anh ta trạc tuổi tôi, trắng trẻo và không quá cao to như những người phương Tây thường thấy. Ở Mỹ, có lẽ anh ta thuộc vào dạng thấp bé, nhưng ở đây, anh ta đúng là một người mẫu. Vóc dáng cân đối, nhanh nhẹn cộng với khuôn mặt thanh tú với những đường nét gãy gọn như một bức tượng Hy Lạp của anh ta khiến nhiều cô gái phải nhìn trộm, có cô vài ba lần.

- Ở công ty anh làm gì, Matt? - tôi hỏi, sau khi chúng tôi đã ra khỏi nhà ga.
- Tôi đang tập huấn công việc bán hàng - Matt nói - Sắp tới công ty chúng tôi sẽ mở một cửa hàng ở Hawaii, và tôi sẽ phụ trách mảng bán hàng ở đó.
- Hawaii ư? Rất nhiều người Nhật sống ở đó, phải không? - tôi nói - Tôi chỉ nghe nói thôi, còn bản thân thì chưa đến đó bao giờ cả.
- "Rất nhiều" là một từ không chính xác trong trường hợp này, cũng như nói "Có rất nhiều người Mỹ sống ở Mỹ" vậy. Khoảng một nửa dân số Hawaii mang ít nhiều dòng máu Nhật - Matt nói.
- Vậy à? Anh cũng thế chứ? Nếu tôi được phép tò mò một chút... - tôi nói.
- Ồ không. Ít nhất là theo tôi biết. Trong người tôi, chủ yếu là máu Ai-len, nhưng pha thêm một chút máu Đức, một chút Tây Ban Nha, và có lẽ cả một chút thổ dân da đỏ nữa. Và rất có thể còn một chút chút khác nữa mà tôi không biết, nhưng máu Nhật thì tôi nghĩ là không đâu - Mattngừng lại một chút rồi nói tiếp - Nhưng đến thế hệ những đứa con của tôi thì có thể sẽ khác đi đấy. Ôi, ôi! Tôi đến phải lòng các cô gái Nhật mất thôi! Họ quá đẹp, phải không? Này (Matt hạ giọng, gần như thì thào) nói cho tôi biết đi, cảm giác khi có bạn gái Nhật Bản là như thế nào? Và làm thế nào để kiếm được một cô?
- Đừng tấn công vào sự riêng tư của tôi như thế chứ - tôi vỗ vai Matt - Anh cứ thử đi rồi biết. Tôi nghĩ sẽ việc đó chẳng có gì khó đối với anh cả. Theo thống kê thì cứ ba cô gái Nhật lại có một cô ao ước một anh bồ Mỹ. Anh mới đến Nhật được vài tuần phải không? Tin tôi đi, sang tháng sau anh sẽ phải khốn khổ mới chạy thoát được họ đấy. Đừng quá sốt ruột! Người Nhật có câu thành ngữ "những tảng đá lăn thì không có rêu".
- Ừm - Matt ngẫm nghĩ - Nhưng câu ấy chẳng áp dụng vào đây được. Anh thấy đấy, tôi có lăn ra xa họ đâu, mà ngược lại mới đúng!

Matt nói khá to, khiến Ayumi phải ngoái lại nhìn. Nàng và hai cô kia đang đi trước chúng tôi mấy bước chân. Họ nói chuyện ríu rít, thỉnh thoảng dừng lại trước chiếc xe bán đồ ăn bên đường nhưng không mua gì cả. Đi được một lúc, chúng tôi gặp cỗ xe hoko đầu tiên. Cỗ xe cao bằng một ngôi nhà ba tầng, có mái cong, bốn phía căng những tấm thảm dày, thêu chỉ màu sặc sỡ. Phía trước xe hai ba chục cái đèn lồng được kết thành chuỗi rủ xuống như một tấm mành huyền ảo.

Những trận mưa chiều ẩm ướt để lại đôi ba vũng nước đọng trên vỉa hè. Chúng tôi bỏ vỉa hè đi xuống dưới lòng đường để khỏi phải để ý tránh chúng. Từ chiều, những con phố chính đã được chăng dây để ngăn xe, biến thành những phố đi bộ. Các cỗ xe bán hàng ăn, nước giải khát và bia hoặc hàng lưu niệm lặt vặt được kéo ra xếp hàng đoàn hai bên đường, khiến khung cảnh trở nên lạ lẫm, không thể nhận ra đó là những con phố quen thuộc mà tôi đã qua lại hàng chục, thậm chí hàng trăm lần. Ngươi đi hội đổ về mỗi lúc một đông, chen vai nhau mà đi. Thỉnh thoảng có ai đó dừng lại để chụp ảnh là cả dòng người ùn ứ lại. Các cảnh sát viên phải làm việc khá vất vả mới duy trì được lằn dây thừng được dựng tạm bằng cách buộc lên đầu những cái cột nhựa hình nón để ngăn cách hai dòng người ngược chiều.

- Anh có đói bụng không? - Ayumi nói, khi trở lại bên cạnh tôi, để cho Matt có cơ hội tán tỉnh hai cô kia.
- Không, anh để dành chút nữa làm một bữa ra trò luôn - tôi nói.
- Trông cái bánh takoyaki ngon quá đi mất, em phải mua một dĩa mới được - Ayumi nói và kéo tôi vào chỗ xếp hàng.
Mua được dĩa takoyaki và ra khỏi quầy bánh thì chúng tôi lạc mất toán của Matt. Họ đã vượt trước chúng tôi một quãng xa. Sau một chập điện thoại, chúng tôi mới tìm lại được họ ở bên cạnh cỗ xe hoko thứ tư. Đúng lúc chúng tôi đến, đội sáo sắt ngồi trên xe bắt đầu khởi nhạc. Đó là một khúc nhạc có rất ít tiết tấu, giai điệu cũ kỹ, lặp đi lặp lại. Đội sáo gồm toàn thiếu nam đầu chít khăn, mặc đồng phục yugata màu trắng chấm xanh ngồi dọc hai bên thành xe, ống tay áo rộng của họ rủ ra ngoài, rập rờn theo nhịp, trông như những cánh bướm sắp sửa bay thốt lên.

Khi đội nhạc trên chiếc xe vừa ngừng thì tiếng sáo và tiếng khánh sắt trỗi lên ở cỗ xe phía trước, đỗ cách đó quãng độ dăm chục mét. Xen giữa tiếng nhạc là tiếng của người đội trưởng, thỉnh thoảng lại hô lên một câu gì đó để bắt nhịp. Tiếng sáo và tiếng hô của anh ta tung hứng rất nhịp nhàng, lúc trầm lúc bổng, cuốn hút như có ma lực. Chúng tôi thả trôi theo dòng người đi về phía tiếng sáo, và cứ thế đi qua hết cỗ xe này đến cỗ xe khác, cho đến khi òa ra ngã tư Kawaramachi. Đến đấy, đám đông tản ra ba hướng. Một luồng gió bất chợt thổi đến, ẩm và mát như gió biển. Đêm bỗng trở nên xôn xao.
- Chúng ta sẽ đi đâu tiếp đây? - Matt hỏi.
- Không biết - Inoue-san nói.
- Có lẽ xem thế là đủ rồi, hãy đi kiếm cái gì ăn thôi - Matt nói.
- Hay đấy - tôi hưởng ứng - tôi đã đói đến mức có thể ăn hết cả một con ngựa.
- Ái chà, anh dùng thành ngữ tiếng Anh khá hơn tiếng Nhật đấy - Matt nói.

Chúng tôi đi xuôi về phía Sanjo. Trên phố chính, không có nhiều hàng ăn và chúng tôi phải dừng lại mỗi khi băng qua đầu một cái hẻm nhỏ, ngó vào để tìm biển hiệu của một nhà hàng.
- Vào Holly's Cafe đi, ngay phía trước kia kìa - ai đó nói to.

Holly's Cafe? Ký ức đột ngột mở toang. Tôi choáng người đi một lúc, rồi nhớ lại tất cả.

Đó chính là nơi cách đây đúng một năm, Liên đã biến mất khỏi cuộc đời của Kaz.

Saturday, August 8, 2009

Đọc thơ cho vợ (3) - Kỳ 2

Nếu mảng dân gian/nông thôn trong thơ NVT phơi bày cái nền tảng sâu rộng của tâm hồn 'cậu bé trung du' (một biệt hiệu cũ của anh) NVT thì những bài thơ viết theo phong cách hiện đại, khai thác những đề tài mới hơn lại cho ta thấy tầm cao của lâu đài thơ NVT.

Trong bài thơ này, anh giống như một nhà ảo thuật, bằng những thủ pháp khéo léo, nhẹ nhàng mở những múi buộc của tấm vải bọc, để cuối cùng phơi mở, giải mã được một trạng thái tâm lý rất khó:

Mỗi ngày tôi nhặt được một sai lầm
Cuối tháng, tôi treo tất cả xung quanh một chiếc gương
Đó là chiếc gương chỉ khi buồn bã
Tôi mới cởi mặt nạ ra để ngắm nhìn mình

Những sai lầm luôn thay dạng đổi hình
Chúng rình rập tôi sau những câu cảm thán
Tôi thấy rõ chúng chẳng chây lười
Chúng dậy sớm, và ngồi chờ tôi một cách bình thản

Tôi hay ví chúng với những viên đạn
Mà tôi bắn vào mọi so bì thiệt hơn
Những sai lầm quện với nhau thành bè bạn
Bất cứ lúc nào tôi cũng cô đơn.
(Những sai lầm)

Trong thơ NVT, chủ đề của một bài thơ nhiều khi không còn là một sự vật, sự việc cụ thể, có thể nhận mặt đặt tên. Đó có thể là một hình ảnh thoáng hiện một cách vô thức, một ấn tượng siêu thực. Chưa ai từng nhìn thấy nó như nhà thơ nhìn thấy, và công việc nặng nhọc của nhà thơ khi ấy là phải diễn đạt nó, không phải theo cách để người khác dễ hiểu nhất, mà để họ cảm nhận đúng như cảm nhận của nhà thơ. Bằng mồi thính là ngôn từ của mình, nhà thơ phải gắng ráng đánh động, kéo nhử những tưởng tượng đang ẩn sâu trong tiềm thức của người đọc ra khỏi cái hang ổ âm u của chúng:

Bàn tay múa trong đêm thoát ra:
đen, dài, mảnh, lạnh
Chính đêm cũng vừa được thoát ra từ dòng mệt

Nhưng đầy rẫy dây rợ, máu, hơi từ hàng triệu con vượn và lịch sử
Chỉ múa được dăm ba vòng rồi tự co lại nằm ngửa thở

Dòng mệt hay cấu tạo nhỏ mọn đã dập tắt tự do
Bất động còn tự do hơn là chết hẳn.

Đến lượt ý thức can thiệp để bàn tay tiếp tục vươn múa
Nhưng thô kệch giả dối không chịu nổi
Múa gì vì sao lại múa
Dòng mệt nảy thêm một đoạn ruột thừa

Ý thức chuyển sang một khúc ngoặt mới
Từ việc ngắm nghía sự trôi đi của bàn tay
đến việc miễn cưỡng mở lối cho giấc ngủ xâm xẩm vào …

Điệu múa không còn dữ dội
Thỉnh thoảng lạc vào quy củ của sự ngu si

Đêm chui trở lại hơi thở
Mải miết tô cho giấc ngủ đen sì
Bàn tay múa
Lại ướt đầm trong mưa gió của giấc mơ…
(Bàn tay múa)

Sở trường của NVT là năng lực tưởng tượng cực mạnh và tài khâu nối các hình tượng vốn không có quan hệ logic nào với nhau thành một chuỗi liền mạch. Người đọc dễ bị thôi miên trong khi lần theo chuỗi hình tượng ấy, tâm trí phiêu diêu mỗi lúc một xa điểm xuất phát, và không biết cái gì sẽ xảy ra tiếp theo. Thơ đích thực phải như thế! Vứt toẹt những ngôn từ rỗng tuếch và vần vèo du dương bất lực đi, thay vào đó những liên tưởng ám ảnh kỳ lạ, đấy mới là thơ. Khi đó, mỗi bài thơ là một cuộc đi mây về gió, có khi vừa đọc xong đã quên mất mình vừa đọc cái gì, không biết bài thơ nói về cái gì, không nhớ nổi tiêu đề bài thơ là gì. Cứ như người ngủ mơ!

Những hình tượng trong thơ NVT có khi rất quen thuộc, nhưng cách và chỗ chúng được sử dụng thì rất lạ lẫm, bất ngờ, ví dụ như cái motip cổ tích trong bài thơ này:

Tôi gặp cái chết của tôi
Đó là cái que dài vô tận
Giữa một khu rừng trồng toàn những cánh tay người
Khi mặt trăng nhe ra một nụ cười

Tôi che thân bằng một tàu lá chuối
Rón rén đi theo cái chết của mình
Bỗng trên thân que ló một chùm gai bưởi
Máu của tôi từng giọt sáng lung linh

Đi hết khu rừng
Tôi chui vào một căn nhà tranh
Sưởi ấm cùng một người con gái
Bếp lửa bập bùng, suối tóc bập bùng
Bức tường lờ mờ, đôi mắt dại.
(Bãi cỏ xanh)

Rất tiếc là những bài thơ như thế này chưa được lòng cái công chúng vẫn còn khá đông đảo các bạn độc giả - đệ tử của các thể loại vè, chẳng hạn vè Tố Hữu, những bạn vốn thỏa mãn với thực đơn thơ chỉ gồm hai món tình cảm rõ ràng: một là yêu thương/ngưỡng mộ, hai là uất ức/căm thù. Các bạn ấy quan niệm thơ trước hết phải có vần, và đề tài hay nhất là ca ngợi quê hương đất nước! Phải chăng hậu quả của cuộc hấp diêm nghệ thuật trong quá khứ vẫn còn ám ảnh công chúng nước nhà, khiến họ quay lưng lại với thơ đương đại nói riêng và văn học đương đại nói chung?

Gặp buổi ế ẩm như hiện nay, khách văn chương chỉ sống dựa vào tác phẩm thì có nước húp cháo. Nghe đâu một bài thơ đăng báo được vài ba trăm nghìn nhuận bút, một cuốn tiểu thuyết được mươi triệu, nên nhà văn thời nay tòan viết báo để sống. Bên nhạc thì khá hơn, nhưng cũng chỉ có lớp váng nổi lềnh phềnh phía trên, gồm các ca sỹ dòng nhạc thị trường, các diva và các nhạc sỹ gạo cội, thức thời nhanh nhạy như Phú Quang thì mới giàu, chứ còn lại thì cũng thường thường bậc trung. Tiến già thơ cũng hay, nhạc cũng hay nhưng chẳng cá kiếm được gì ở hai món ấy, chẳng dư dả gì. Hồi đang thai nghén cái album đầu tay, anh bảo mình, anh định mời các công ty tài trợ tiền sản xuất đĩa, đặt ra mấy mức hẳn hoi, mức cao nhất sẽ được in logo quảng cáo ở bìa sau, mức thấp hơn thì được đánh trống ghi tên. Mình hỏi, mức thấp là bao nhiêu để em chơi? Anh bảo, ờ, thì khoảng dăm mười triệu. Nghe giọng anh có vẻ không tự tin lắm, không hiểu là do anh chưa quen vai này hay do anh nghĩ mình không có tiền, sợ nói thách cao quá, hehe.

Thơ và nhạc tựu trung cũng chỉ là nơi chơi bời của Tiến già, chứ kiếm ăn thì phải nhìn vào 'nghề của chàng' là kiến trúc. Công ty của anh hồi ấy cả nhân viên lẫn cộng tác viên độ chục người, nhận cả phần kiến trúc lẫn kết cấu. Nghề tư vấn ở nhà mình chẳng phải ngon ăn gì, định mức tư vấn tính theo tổng mức đầu tư đã thấp, mà có trình bày với chủ đầu tư họ cũng gạt cái roẹt, bảo, cái này trọn gói nhiêu đây, nhiêu đây, cậu có làm được thì làm. Gặp lúc công ty còn nhỏ, đói việc thì cứ phải nhắm mắt mà nhận. Cái công trình ở Thái Bình ấy, Tiến già ăn phải quả đắng. Có lần hai anh em xuống làm việc từ sớm theo lịch hẹn, xuống đến nơi thì chủ đầu tư bảo bận đột xuất, chiều quay lại nhé. Lại phải thuê phòng nghỉ nằm đợi đến chiều. Tiến già bức xúc lắm, bảo, em xem, tổng giá trị hợp đồng được hai trăm triệu, nửa năm nay anh đi đi về về đến chục lần rồi, tiền thuê xe, ăn uống mỗi lần mất toi bốn triệu, mà chưa đâu vào đâu cả. Không biết chục lần nữa có xong không? Cứ cho là xong thì coi như đi mất tám chục, rồi còn tiền lương nhân viên, tiền thuê văn phòng...thế thì anh còn lại cái gì? Nghe Tiến già tính toán, mình nghĩ, theo cái đà này thì không biết vài năm nữa thơ của anh, nhạc của anh sẽ thành cái gì? Hết dân gian? Hết lãng mạn? Hết siêu thực? Chỉ còn sặc mùi hiện sinh?

Sống nghĩa là phải đối mặt với thực tại trần trụi. Nhưng người nghệ sỹ thì phải đối mặt với nó hai lần. Lần đầu, họ nhìn thấy nó. Lần thứ hai, họ tái hiện nó, săm soi nó, mổ xẻ nó và truyền đạt cảm xúc của họ khi làm việc đó cho công chúng. Khi một sự việc xảy ra, một người bình thường chứng kiến rồi quên đi, nhưng một nhà thơ sẽ đặt những câu hỏi.

Ai vừa qua đời bên kia bản tin?
Ai phí một chăm sóc?

Chao ôi, đất
Lại phải giấu giếm mãi không thôi

Có một cái tên
Bay lên
rồi tan
Tên gì nghe nhàm nhàm
Mọi người có những cái tên nhàm nhàm
Sao không biết chán?

Cả số phận nữa
Nếu nhàm nhàm
Sao không để nó bay lên?

Chết nhạt quá
Bản tin thoăn thoắt quá
Ngày đấy chăng?

Tôi ngồi nhạt quá
Rất bị động
Lẫn lộn giữa mưa tin

Người phát ngôn
Giọng quả quyết
Rằng người có cái tên nhàm nhàm đó đã chết
Sao anh nói say mê thế
Về sự ra đi của một con người?

Tôi ngồi rỗng mặt
Mưa tin tạnh lúc mấy giờ?
(Bản tin cuối ngày)

Những trăn trở về kiếp sống, những câu hỏi hiện sinh như vậy lúc nào cũng lưu trú trong tâm thức của thi sỹ, có cách gì mà tẩy cho sạch được? Hễ gặp cái gì gây cho họ bức xúc, chúng rất dễ sưng tấy, mưng mủ trở lại.

Cụm ý nghĩ, xoắn vào nhau, điên đến nơi
Nhưng tôi thì chưa
Bình tĩnh châm thuốc hút

Thành phố ngủ
Giấc mơ loè loẹt điên loạn

Nó đồng sàng với những người ngủ

Ngay cả đốm đỏ lửa
Trên đầu điếu thuốc
Cũng có vẻ loé điên
Mặt trời rõ điên rồi còn gì
Chực chờ một giấc ngủ sâu thẳm

Tôi bình tĩnh lắm
Hơi run lên ngón tay
Vì cái bóng tôi trên tường
Lẳng lặng chuồn ra những gốc cây

Chúng điên cả rồi
Một vườn ươm những giấc mơ loè loẹt ấy
(Phát điên)

Thời gian chơi với anh Tiến không nhiều nhưng đủ để mình nhận thấy anh là người tự cân bằng rất tốt. Anh ăn nói điềm đạm, lối sống cũng giản dị, tuyệt nhiên không bao giờ thấy anh ra vẻ ta đây là người nổi tiếng. Anh cư xử với ai cũng chân thành, thân mật nhưng không bỗ bã, vui vẻ nhưng không bốc đồng. Tóm lại là một người nhân hậu, và có lẽ lạc quan, như cái kết này:

Tôi thấy phi lý nhảy dựng lên
Điếu thuốc cuối cùng đã tắt
Buổi sáng lén lút cười giữa đống chăn.
(Phát điên)

***

Trước khi đi Nhật vài tháng, mình gặp anh Tiến trong quán cà phê đầu ngõ vào khu tập thể nhà anh. Mình mang lên gửi anh ít xiền, gọi là cảm ơn công anh giới thiệu cho cái dự án ở Thái Bình. Dự án ấy cuối cùng chẳng đi đến đâu, mình kiếm tý ty, chẳng đáng bao nhiêu nhưng gặp được anh Tiến coi như lãi lớn, chưa kể ba bốn bận đi xe cùng với anh, được anh hát "live" cho nghe mệt nghỉ, toàn bài mới tinh, chưa phát hành bao giờ. Thật, mình chẳng mong anh lao sâu vào nghiệp kinh doanh, bởi như thế đời này sẽ chỉ thêm một doanh nhân hạng quèn mà mất đi một tài năng nghệ thuật hiếm có.

Friday, July 31, 2009

Đọc thơ cho vợ (3) - Kỳ 1

Nguyễn Vĩnh Tiến là một nhân vật 'hot' của báo chí mấy năm nay, kể từ khi "hiện tượng âm nhạc" - Bài hát "Bà tôi" - xuất hiện, rồi không lâu sau đó, bài hát "Giọt sương bay lên" về đầu trong dòng Dân gian đương đại của Bài hát Việt. Những bài báo viết về anh đều na ná giống nhau, gọi anh bằng một dây danh xưng, thường là theo thứ tự: giám đốc, kiến trúc sư, nhạc sỹ, nhà thơ/nhà văn. Mình nghĩ, chính cái danh 'nhạc sỹ' đã có công 'khai quật' mấy cái danh kia lên. Nếu xếp theo số lượng công chúng thì hệ thống danh xưng của anh đúng ra phải như thế này: Nhạc sỹ, nhà thơ/nhà văn, kiến trúc sư, giám đốc. Người ta chỉ biết nhạc sỹ NVT chứ mấy ai biết đến giám đốc NVT, nhưng thời buổi doanh nhân được tung hô quá trời này, có lẽ các bạn phóng viên thấy cứ phải để chức giám đốc lên đầu mới oách?

Phần lớn (chắc phải đến 80-90%) công chúng của nhạc sỹ NVT không phải là công chúng của nhà thơ NVT, chưa từng đọc thơ/văn của anh. Mình cho đó là một điều bất công. Bởi chỗ ngồi của anh trong làng văn học VN không hề thấp hơn, nếu không nói là cao hơn, chỗ đứng của anh trong làng âm nhạc. Âu đấy cũng là cái thiệt thòi của văn học (không phải chỉ ở mỗi xứ ta): Nhạc nhẽo vẫn luôn chiếm vị trí thượng phong hơn trong đời sống văn hóa của người dân so với chữ nghĩa.

Mình biết anh Tiến, theo nghĩa "nghe hơi nồi chõ", từ hồi cấp ba. Hồi ấy báo Hoa Học Trò mới ra, xôm tụ lắm, bài vở của các cây bút học trò nhiều như quân Nguyên, lớp tác giả ấy nhiều người giờ đã thành danh như Nguyễn Thị Châu Giang, Đặng Thiều Quang, Trang Hạ, v.v. Anh Tiến lúc bấy giờ cũng đã có số có má với cái bút danh nghe hơi ái ái 'Tiểu Tuyền Thư' (sau mới biết bố anh tên Tuyền, mẹ tên Thư nên mới đặt bút danh ra thế). Anh đăng cả thơ và truyện ngắn. Mình nhớ nhất bài "Tuổi tôi", một bài rõ là thơ học trò, nhưng có những câu nhiều ông tóc bạc trong Hội nhà văn cũng không viết nổi:

Quê tôi cả thẹn, hay lo
Dòng sông vắng khách, con đò trầm ngâm
Bụi tre thích đứng cười thầm
Giàn bầu, giàn bí thích cầm tay nhau
Con chim sẻ nhớ bẹ cau
Con chào mào lại nhớ màu ổi ương...

Lòng tôi lắm ngách nhiều đường
Trẻ con theo phía trống trường mà đi
Mặt trời vừa giống hòn bi
Lại vừa giống điểm bài thi hôm nào...
Tuổi tôi câu cá bờ ao
Chợt mong chẳng có con nào cắn câu
Tuổi tôi bám chặt lưng trâu
Vượt sông mà ngắm nhịp cầu bắc ngang
Tuổi tôi ra đứng đầu làng
Để xem màu nắng có vàng như hoa?
Tuổi tôi sục sạo khắp nhà
Tìm sao cho đủ tiếng gà ban trưa
Tuổi tôi chạy giữa cơn mưa
Thương con kiến cánh bay chưa kịp về

Tuổi tôi cắt cỏ ven đê
Những khi đầy gánh lại khe khẽ buồn
Tuổi tôi lúc ngắm hoàng hôn
Lo cho diều giấy vẫn còn trên cao
Tuổi tôi có lối rẽ vào
Suốt đời bước thấp, bước cao - Tôi tìm.

Bài này mình thích cả bài, trừ hai câu cuối hơi lên gân, kiểu "ông cụ non". Thích nhất là câu "Tuổi tôi câu cá bờ ao/ Chợt mong chẳng có con nào cắn câu", nghe như ca dao!

Nghe tiếng anh từ hồi ấy, nhưng mãi đến năm 2005 mình mới gặp anh, nhờ một chuyện chẳng dính dáng gì đến văn chương cả.

Hồi còn trẻ (hehe), mình có mở một cái công ty tư vấn tư veo, thi công thi kiếc đủ cả. Một hôm, khoảng cuối năm 2005, mình nhận được điện thoại của khách hàng, đề nghị hợp tác một việc như thế, như thế và hẹn gặp để cùng đi xuống hiện trường. Sáng hôm sau, xe công ty ấy đến văn phòng đón mình. Mở cửa ra thấy đầy một xe, lố nhố năm sáu ông ngồi sẵn ở trong. Lên xe, anh giám đốc đưa card, mình đọc thấy "Công ty Kiến trúc Việt-Pháp (T-Group) - Giám đốc Nguyễn Vĩnh Tiến". Đời này chắc chắn phải có ít nhất dăm bảy ông tên là Nguyễn Vĩnh Tiến, nhưng chẳng hiểu sao, lúc ấy mình có linh tính đấy chính là ông nhà thơ học trò ngày xưa. Nghĩ bụng thế, nhưng cũng chẳng hỏi ông ấy, chỉ hỏi công việc. Hóa ra công ty Việt Pháp không phải là khách hàng trực tiếp của mình, mà là một chủ đầu tư ở Thái Bình. Anh Tiến tư vấn phần kiến trúc cho công trình ấy, hiện giờ nó đang có vấn đề về nền móng nên anh phải tìm giúp chủ đầu tư một công ty xuống xử lý, và anh tìm thấy tên công ty mình trong cuốn danh bạ Những trang vàng.

Đoàn xuống Thái Bình trên cái xe 7 chỗ hôm ấy có anh Tiến, một ông bạn của anh, mình, chú lái xe và ba nhân viên của anh. Chẳng mất nhiều thời gian để xác nhận cái linh tính của mình. Xong màn chào hỏi và giới thiệu thông tin dự án với mình, anh chuyển sang nói chuyện với bạn anh và nhân viên về... nhạc. Hôm trước chú Phan Cường bảo anh nên cho phối khí lại bài này bài kia... Cái Ngọc Khuê thích bài này lắm, nó bảo em hát miễn phí cho anh. Bọn ca sỹ nó cũng đói bài hát lắm chứ, gặp được bài nào hay thì cũng tốt cho cả chúng nó nữa... Bọn VTV bảo năm nay có khả năng "Bà tôi" và "À í a" sẽ vào chung kết giải Bài hát của năm... Mình ngồi nghe, hơi ngạc nhiên vì NVT nhà văn bây giờ lại quay ra sáng tác nhạc, và bài "Bà tôi" gì đó của anh nghe chừng rất nổi. Thật, từ khi về nước mình chẳng mấy khi xem ti-vi, hơn hai năm chẳng đọc được cuốn sách nào, chỉ vì máu kiếm tiền quá, lăn lóc hết công trình này đến công trình kia. Sau bữa đi Thái Bình về, mình vào Internet gúc bài "Bà tôi" ra nghe, phê lòi, nhất là đoạn dạo đầu. Vác cả dàn giao hưởng ra đệm cho đàn bầu thì bây giờ mới thấy có một!

Cái bài "Bà tôi" ấy giờ đã nổi tiếng quá rồi, đến nỗi có lẽ ai đọc đoạn thơ:

Cười cười một chuỗi
Trời thử bụng ta
Có mùa thóc lép
Lợp trên mái nhà...

cũng đều tự động bật bài hát lên trong đầu, chứ không đọc nó như thơ nữa, cho dù (ít người biết là) nó đã từng đoạt giải thưởng thơ của báo Văn nghệ TPHCM năm 1993. Sự kết hợp giữa ca từ và nhạc của bài hát này nhuần nhuyễn, hoàn hảo tuyệt đối, không hề có dấu vết của một bài thơ được phổ nhạc.

"Bà tôi" không phải là bài hát duy nhất làm được điều đó. Có một bài Tiến già đã tự thu âm và cóp cho mình một bản về nhà nghe (hình như đến giờ vẫn chưa publish) ca từ như thế này:

Đưa em đưa em qua cầu
Anh mang con sông về làm dâu
Xa nhau, xa nhau bao năm rồi
Hoa bèo, xác pháo lạc bờ nao?

Đưa em, đưa em qua cầu
Anh theo con sông chảy về đâu
Ngô non, ngô non đôi bên bờ
Trăng vàng, trăng úa nhạt bờ cau

Bóng tre đã mục
Bóng cầu đã mục
Rêu xanh lên mắt ngóng trông nhau
Bóng sông đã mục
Bóng người đã mục
Còn nguyên tiếng pháo trên cao...

hoặc một bài mà anh dự định đặt tên là "Bóng anh hùng", mở đầu bằng:

Giá như không có chân trời
Giờ này đôi chân không phải ngược xuôi
Giờ này vui như nước chảy qua cầu
Vui như
Nụ cười đã loãng ra cùng mùa xuân.

Giá như không có tâm hồn
Giờ này vui như sóng vỗ từng cơn...

Mình dám chắc những đoạn ca từ ấy vốn là những khúc thơ anh viết từ trước, nhưng không hỏi anh, bởi hỏi thế chẳng khác gì chỉ chăm chăm vào ca từ mà không thấy cái hay của nhạc. Những bài hát ấy, chẳng cần đến lời, cũng đã là những khúc nhạc rất đẹp, tràn ngập âm hưởng dân gian.

Chất dân gian trong nhạc NVT thì đã rõ rồi (chẳng thế mà được xếp vào dòng Dân gian đương đại), nhưng chất dân gian trong thơ NVT thì còn rõ hơn. Người, vật và sự việc trong nhiều bài thơ của anh đều rất đỗi gần gũi, thân thuộc, gắn bó với đời sống nông thôn, với văn hóa làng xã:

Có mùa thóc lép
Lợp trên mái nhà
Có mùa hoa cà
Tự nhiên tím tái
Bà ví lông gà
Vàng như vườn cải
Ông ví mặt trời
Như lời mối lái
Ta ví tình ta
Như trò nghịch dại
(Héo mòn một xâu)

hay:

Những con chồn hoang
Đêm đêm mò về làng
Mắt như sao rơi xuống đất
Mỗi chiếc lông rụng
Mang theo một hạt bụi
Của núi đồi
(Chồn hoang)

hay:

Tôi đáng lẽ đã thấy chuyến đò định mệnh
Nếu không lạc vào những tiếng chuông trên mặt nước
Rồi đuổi theo em áo vàng trong cánh đồng ngô
Bắp tròn hạt mẩy
(Trung du)

NVT đã khai báo cái lai lịch "Tôi sinh ra ở nông thôn" (@Nguyễn Huy Thiệp) bằng những câu thơ như thế này:

Những vết roi của cánh đồng
Lằn mãi phía tôi đi
Một tuổi thơ chân không ấm ức
Bà tôi chỉ phía cánh đồng sáng rực
Bảo rằng, nơi ấy mặt trời
Đang rèn những lưỡi cày sáng loáng
Để xới tung lên những kiếp người.

Ai sẽ đánh luống cho cuộc đời tôi?
Để mỗi sớm mọc lên một mầm cây bé tí
Ai sẽ be bờ cho dòng chảy tôi?
Một con mương trong xanh không nghỉ.
(Những vết roi của cánh đồng)

(Còn 1 kỳ nữa)

P/S: Một số bài thơ của anh Tiến phát trên Đài tiếng nói VN (lâu lắm rồi):


Saturday, July 25, 2009

Kaz (13) - Ví dụ như tình yêu

Những vết tích của hội "Ý tưởng mới" từ lâu đã biến mất khỏi phòng khách nhà Kazuhito, ngoại trừ cái thố đan bằng cói để bên ghế bành mà bà Chikako giữ lại để đựng những tờ tạp chí, nhưng bà Chikako thì vẫn là một thành viên tích cực của hội. Bà vẫn dự đầy đủ những buổi gặp mặt của hội, và đôi khi đóng góp những ý tưởng hay. Buổi giao lưu trà đạo lần này chính là một ý tưởng của bà.

Địa điểm được chọn là nhà riêng của bà Sato hội trưởng, cách nhà Kazuhito không xa. Ông Sato là giám đốc một bệnh viện tư, là bạn chơi golf với ông Fusao.

Ông bà Fusao đi sang nhà Sato từ đầu giờ chiều để phụ giúp công việc chuẩn bị. Yosuke ở nhà, anh đợi điện thoại của Liên để đón cô ở nhà ga và sẽ đến sau. Mong mỏi là một từ không đủ mạnh để miêu tả tâm trạng của anh lúc này. Nếu nhìn thấy anh đứng ngồi bứt rứt trong phòng suốt cả buổi sáng, người ta dễ dàng liên tưởng đến một con chó bị ong đốt ở mông.

Thoáng thấy Liên ra khỏi cửa ga, Yosuke đã nhận ra cô vừa mới cắt tóc. Mái tóc của cô đã được cắt ngắn đi một nửa.

- Tớ vừa nhận một công việc chạy bàn bán thời gian trong một tiệm ăn - cô giải thích với Yosuke trên đường đi - Để tóc dài thì rất vướng nên tớ vẫn phải buộc lên. Vả lại, sau mỗi buổi làm tớ lại phải gội đầu cho hết mùi thức ăn ám vào, cắt gọn bớt thì gội đầu sẽ đỡ mất thời gian hơn.

- Như thế này trông cậu năng động hơn - Yosuke nói. "Và vẫn đẹp như trước", anh nghĩ bụng, nhưng không dám nói ra. Khiếm khuyết lớn của một người đàn ông là không dám tán thưởng nhan sắc của phụ nữ trước mặt họ. Yosuke hình như đã đọc được câu ấy ở đâu đó, nhưng anh không hoàn toàn đồng ý. Giống như nhiều đàn ông Nhật, anh khá cả thẹn trước phụ nữ.

Cơ ngơi của ông bà Sato rất đồ sộ. Ngôi nhà ba tầng sơn màu trắng có hai gara, để được bốn chiếc xe. Phía trước nhà và hai bên lối vào trồng cây triêu nhan có hoa màu hồng và trắng, được cắt tỉa gọn ghẽ.

Bà Sato là một nghệ nhân. Bà dẫn Liên và Yosuke vào phòng khách, cho họ xem những tấm thiệp được bà vẽ bằng màu nước và những tấm thiệp ảnh chụp cận cảnh hoa lá. Liên rất thích những chiếc khay gỗ xinh xắn sơn màu sáng dùng để trang khí phòng khách và các bức tranh thêu cườm rất tỷ mỷ mà theo bà Sato, phải mất hàng tuần mới hoàn thiện được một bức.

Trà thất nằm cạnh phòng khách. Đó là căn phòng duy nhất trong ngôi nhà được trần thiết theo kiến trúc truyền thống Nhật Bản, sàn nhà lát bằng chiếu tre, các bức vách và cửa trượt đều có khung gỗ và căng giấy cứng. Khoảng hõm tokomona nằm bên tay trái, trên tường có treo một bức trướng rộng cỡ hai bàn tay viết chữ "Hòa". Dưới bức trướng là một lọ hoa hình chữ nhật bằng gốm màu đen. Lối cắm hoa chabana dùng trong trà thất có nguồn gốc từ nghệ thuật ikebana nổi tiếng của người Nhật, nhưng được đơn giản hóa đi nhiều để đạt được sự thanh thoát, gần gũi với thiên nhiên, như tôn chí của trà đạo.

Ngoài gia đình Kazuhito còn có bốn gia đình khác nữa được mời. Các vị khách lần lượt ngồi xuống theo ba cạnh của hình chữ nhật, cạnh còn lại chính là lối đi từ cửa phòng vào đến chỗ đặt lò. Lò đun bằng than củi, nhưng không thấy khói, cũng chẳng ngửi thấy mùi khói. Bà Chikako mặc áo yukata màu xanh da trời có họa tiết sóng biển trắng xóa, đang quỳ trước lò đun nước. Từ phía sau, Liên thấy trong mái tóc vấn cao của bà có đôi sợi bạc. Chợt Yosuke quay sang hỏi nhỏ, “Liên dự trà đạo bao giờ chưa?”. Liên lắc đầu. Cô chỉ mới có một lần xem trên ti-vi, và đã ái ngại trước những thủ tục rườm rà và máy móc của một buổi trà đạo, những nghi thức quá đỗi xa lạ đối với cô. Nhưng lúc này cô không có cảm giác ấy. Bên cạnh cô là Yosuke. Không biết từ lúc nào, cô thấy lòng mình thật yên ổn mỗi khi ngồi bên anh.

Từ cửa, bà Nagashima, một trà nhân khác, đi vào. Bà quỳ gối, đặt xuống trước mặt ông Fujita ngồi ngoài cùng một khay sơn mài đựng những chiếc bánh vuông vức, dường như được xén ra từ cùng một cái bánh to. Bà duỗi hai tay ra phía trước, rồi gập người xuống sát mặt chiếu, nói, “Xin mời ông thưởng thức bánh”. Đáp lại bà Nagashima, ông Fujita cũng làm đúng như thế và nói “Xin cảm ơn”.

Không phải mọi người Nhật đều thông thuộc các nghi thức của trà đạo. Ông Fujita là một ví dụ. Bà Nagashima phải chỉ cho ông cách dùng miếng cật tre để cắt bánh trong đĩa và đưa lên miệng. “A, hóa ra là vậy!”, ông Fujita nói một cách hồn nhiên, khiến mọi người bật cười.

Bà Nagashima chuyển đĩa bánh sang người kế tiếp và lặp lại mọi nghi thức đã làm trước đó với ông Fujita. Cứ như thế cho đến lượt Liên, rồi Yosuke nhận bánh. Đó là một loại bánh làm bằng đậu đỏ, ngọt gay gắt, đến mức ăn xong bánh, người ta lập tức cảm thấy khát nước.

Nước trong siêu sôi liu riu. Bà Chikako mở nắp siêu, múc nước bằng một chiếc gáo tre nhỏ, rót vào cái bát đã bỏ sẵn bột trà xanh xay nhuyễn, khuấy nhẹ mấy vòng cho trà tan hết. Tất cả những việc ấy, bà đều làm bằng một tay, vì tay trái được dùng để đỡ lấy ống áo rộng của tay phải. Bà Nagashima nhận lấy bát nước và mang đến mời ông Fujita giống như cách bà mời bánh. “Thật là quá quắt!” – một người ngoại quốc có thể sẽ nghĩ – “phải quỳ lạy đến hai lần mới được một miếng bánh bé tẹo với một hớp nước”, nhưng nếu người đó đến đất nước này và chứng kiến người Nhật cúi chào nhau tới dăm bảy lượt trong mỗi lần gặp gỡ thì sẽ thấy những nghi lễ của trà đạo là cần thiết. Đối với người Nhật, biểu lộ sự tôn kính không bao giờ là thừa, dù là đối với con người hay đối với thiên nhiên, hay đồng thời cả hai, như mỗi lần trà nhân và khách cúi lạy nhau trong buổi thiết trà: Bánh và trà bao giờ cũng được đặt ở giữa, trước mặt họ. Chúng chính là biểu tượng của sự sống, là ân hưởng của thiên nhiên dành cho con người. Cúi lạy, trước hết là để tỏ lòng biết ơn trước cuộc sống và sự Thiêng liêng đã tạo ra nó, rồi mới đến người đang đối diện với ta, người chia sẻ với ta khoảnh khắc này. Nếu nói trà đạo là một nghi lễ tôn giáo cũng không sai, bởi khởi nguyên, trà chỉ được dùng để dường cúng Phật. Các nhà sư Nhật Bản hàng trăm năm trước đã sáng tạo ra trà đạo, như một phần của Đạo, và nó chỉ được tiến hành trong khuôn khổ nhà chùa. Giới quý tộc đã đưa nó về trai thất của tư gia, rồi từ đó trà đạo đã thấm vào đời sống của bách tính. Nét đẹp khác biệt của trà đạo so với những nghi lễ tôn giáo khác là sự giao cảm giữa những người tham dự, thay vì sự tụng niệm một chiều của kẻ tu hành đối với thánh phật của họ.

Trà đã được mang đến cho Liên. Cô bắt chước những người ngồi trước làm các động tác cúi chào khá thuần thục, tuy không chắc là tư thế tay của mình có hoàn toàn đúng hay không. Cô nâng bát trà lên ngang mặt và đặt nó vào lòng tay trái, rồi quay sang Yosuke nói nhỏ: "Tớ phải xoay bát mấy vòng?". "Hai lần", Yosuke đáp, "Và dừng lại ở chỗ nào có hoa văn đẹp nhất". Bát uống trà bằng gốm men sần, màu nâu bóng, những chỗ có hoa văn vẽ các hình vuông lồng vào nhau được tráng men bóng màu ngọc. Nước trà cũng có màu xanh ngọc, trên mặt nổi rất nhiều bong bóng. Liên có cảm giác những cái bọt mỏng ấy vỡ lách tách trong miệng cô. Cô không có ấn tượng gì đặc biệt về hương vị của trà. Đó là một thứ trà rất nhạt, và chắc chắn sẽ không gây cho ai mất ngủ.

Yosuke là người cuối cùng được uống trà. Khi cậu uống xong, bà Nagashima thu dọn khay bát và mang xuống bếp. Liên để ý thấy bà dịch chân, xoay người sang phải một chút rồi mới đứng dậy, và khi bà bước đi, cả bàn chân đều chạm đất, vì thế nói đúng hơn là thay vì bước, bà đang rê chân trên chiếu. Mỗi bước đi của bà phát ra tiếng xoàn xoạt, cho đến khi bà ra khỏi trà thất.

Khi buổi lễ kết thúc, Liên không thể tự mình, mà phải vịn tay Yosuke mới đứng lên nổi. Cả hai chân cô đều tê rần, không có cảm giác gì, hậu quả của việc xếp chân quỳ quá lâu. "Ôi, lần sau thì tớ sẽ không ngồi kiểu seiza này nữa đâu!", Liên ngượng nghịu nói với Yosuke. Thực ra, cô đã có thể ngồi theo kiểu nào tùy ý, giống như những người đàn ông, nhưng vì thấy tất cả phụ nữ trong phòng đều quỳ nên cô không muốn làm khác.

"Cậu đi lại một chút là sẽ hết ngay thôi mà", Yosuke nói, "Cậu có muốn đi dạo một lúc không?".

Họ ra khỏi nhà và đi về phía núi. Nắng không còn gay gắt như buổi trưa, nhưng cái nóng thiêu đốt thì vẫn còn hầm hập. Hai bên con đường đất đi lên núi, thỉnh thoảng họ lại gặp vài vạt cỏ khô rạc và những mảng rêu cong bong ra khỏi mặt một tảng đá lớn bạc phếch. Ve kêu inh ỏi. Một con ve núp trong bụi keo bên đường đột ngột réo lên, âm thanh của nó kéo thành từng sợi mỏng, căng đét tưởng như có thể sờ thấy từng sợi một. Đến chỗ cao trào, tiếng réo của nó chuyển sang giọng kim, âm lượng nhỏ nhưng nhọn hoắt, chích vào màng nhĩ người ta không chút thương xót.

- Bọn ve mồm miệng khiếp thật - Yosuke lẩm bẩm - Nghe mà muốn phát điên.

- Hay chứ - Liên nói - Chúng làm nhớ tới mùa hè cuối cùng của thời trung học. Nhớ lắm ấy! Chúng tớ tặng nhau những bông phượng ép vào vở. Đấy là một loài hoa màu đỏ rực, đỏ hơn bất cứ loài hoa nào, chỉ nở vào mùa hè. Ở Nhật không có, nhưng ở Việt Nam thì rất nhiều, ở đâu cũng có thể bắt gặp nó. Bọn con gái chúng tớ tìm những bông hoa phượng đầu tiên để hái và cho vào vở ép. Đến lúc bế giảng năm học thì chúng cũng vừa khô, nhưng màu đỏ của chúng thì vẫn thế. Đỏ rực. Chúng tớ xếp những cánh hoa đỏ ấy thành hình trái tim, hình đôi môi hoặc những hình khác đại loại thế. Lúc chia tay nhau, chúng tớ lấy những tấm hình ấy ra tặng nhau, đứa nào cũng khóc. Chẳng có đứa nào không khóc cả, cậu có tin không? Nghe sướt mướt quá, phải không, nhưng sự thực đúng là như thế đấy.

- Thời trung học của tớ - Yosuke nói - Chẳng có cái gì đáng nhớ cả. Thậm chí còn rất tồi tệ nữa là đằng khác.

- Sao lại có thể như vậy được? - Liên kêu lên - Tớ thấy những người bạn thân nhất của mình là từ thời trung học. Chúng tớ cứ như chị em của nhau ấy, học cùng nhau, đi chơi cùng nhau, cái gì cũng có thể chia sẻ với nhau được. Lên đại học, tớ cũng có những người bạn mới, nhưng hình như mỗi người đều có những mối quan tâm riêng, chẳng hết lòng như thời trung học được nữa.

- Trong đời, tớ chỉ có hai người bạn - Yosuke nói - Một người tên là Sagawa. Cậu ấy chơi với tớ từ nhỏ, cho đến khi chúng tớ học lớp 5, gia đình cậu ta chuyển lên Yokohama. Lên trung học thì tớ chỉ chơi với thằng Morinaka. Cậu ấy không giống tất cả những người khác. Cậu ấy có những sở thích riêng và ít khi đàn đúm với đám đông. Tớ cũng thế. Mới đầu, hai đứa chúng tớ cứ như hai cái dép lạc, mỗi cái một góc nhà, chẳng đứa nào nói chuyện với đứa nào, cũng chẳng nói chuyện với ai khác. Một bữa, giờ giải lao, tớ ngồi trong lớp đọc sách, nếu tớ nhớ không nhầm thì đấy là cuốn "Tà dương" của Osamu Dazai, thì Morinaka đến bên cạnh tớ, hỏi "Cậu đọc gì đấy?". Tớ chìa sách cho cậu ta xem, cậu ta bảo "Hôm trước tớ cũng vừa mới đọc nó. Tớ còn mấy cuốn nữa của Osamu Dazai, nếu cậu thích thì tớ cho mượn". Đấy, mọi chuyện bắt đầu như thế.

Liên và Yosuke đã lên đến chỗ nghỉ chân trên đỉnh núi. Chỗ ấy, người ta dựng một cái mái che, kích cỡ bằng một cái nhà chờ xe buýt, bên dưới kê hai băng ghế bằng bê tông được sơn phết trông như làm bằng gỗ. Từ chỗ ấy nhìn xuống, có thể nhìn thấy một nửa hồ Biwa, một nửa kia bị một quả núi khác che khuất. Lên cao, gió nhiều hơn và mát hơn. Liên gỡ dây buộc tóc, xõa chúng xuống trước ngực bên phải và se chúng giữa những ngón tay.

- Cậu vẫn còn gặp Morinaka chứ? - Liên nói.

- Không. Cậu ấy chết rồi - Yosuke đáp lại.

- Sao lại chết? - Liên thảng thốt.

- Cậu ấy tự sát - Yosuke nói - Cậu ấy lên tàu đi Wakayama, ra mũi Shirahama và nhảy xuống. Chỗ ấy vách núi nhô ra biển rất cao. Nhảy xuống là chết chắc.

- Nhưng tại sao cậu ấy lại làm thế?

- Tớ cũng không rõ - Yosuke nói - Chẳng ai biết rõ. Cậu ấy không để lại thư tuyệt mệnh. Nhưng tớ nghĩ là do cậu ấy buồn chán. Cậu ấy thường nói với tớ, cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì cả, và muốn biết cái gì sẽ xảy ra sau khi chết đi. Đôi khi, tớ cũng có ý nghĩ ấy.

Liên rùng mình. Cô bị sốc khi nghe Yosuke nói câu ấy, cô quay sang nhìn anh. Yosuke vẫn ngồi thẳng, có vẻ như đang dõi theo mấy cánh buồm trắng đi lại trên hồ. Liên nắm lấy cánh tay Yosuke, như muốn níu giữ một cái gì sắp sửa tuột đi mất. Yosuke quay sang, gỡ tay cô và giữ nó lại trong tay mình.

- Đừng sợ, Liên - Anh hơi nhoẻn cười - Quả là trước đây tớ thường có ý nghĩ bệnh hoạn ấy. Nhưng bây giờ thì hết rồi. Có điều là gần đây, tớ lại mắc phải một chứng bệnh khác, bệnh tương tư. Chẳng hiểu sao tớ nhớ Liên rất nhiều, và chỉ mong được gặp cậu. Tớ nghĩ là tớ yêu cậu mất rồi.

Liên run lên. Cô muốn khóc, nhưng không thể. Cô gục vào ngực anh. Cô cũng không thể nói nên lời, rằng cô nhớ anh biết bao. Cuộc sống của cô ở Nhật đang phải trải qua những khó khăn quá sức chịu đựng, điều mà cô chưa thổ lộ với ai. Không ai biết những lúc cô ngồi trong bóng tối hàng giờ, khóc, nhưng nỗi khổ tâm của cô không vơi đi cùng nước mắt. Cô căm hận, cô nguyền rủa những kẻ đã gây ra bi kịch cho cô, cho gia đình cô. Nhưng lời nguyền rủa của cô không thể đến tai chúng, không giết được chúng. Những con quỷ đội lốt người ấy vẫn sống nhơn nhơn. Thế giới này đầy rẫy những con quỷ như thế. Cô chực nguyền rủa cả thế giới, nhưng kịp dừng lại khi nhớ đến những gì anh đã nói với cô trong những lần họ gặp nhau. Anh đã đọc cho cô rất nhiều thơ. Chúng lấp lánh như những viên kim cương, và hễ cô nhớ đến anh và những câu thơ của anh, cô thấy lòng mình rung lên như trăm ngàn chuông nhỏ. Lúc ấy, cô tin, đâu đó, trong cuộc đời này, vẫn có những điều kỳ diệu.

Ví dụ như tình yêu.

Saturday, July 11, 2009

Kaz (12) - Cơn mưa

- Ayumi, ngày mai em không bận gì chứ? - tôi hỏi, sau khi mua xong vé tàu từ máy bán vé tự động.
- Ngày mai...Không có gì quan trọng cả. Sao thế? - Ayumi nói.
- Vấn đề là anh vừa nhầm lẫn một chút - tôi nói, cố giấu vẻ tinh quái, và xòe hai cái vé vừa mua cho nàng xem - Anh đã mua hai cái vé về nhà anh. Hay là - tôi hạ thấp giọng - em về nhà với anh nhé?
- Này, này - Ayumi vừa cười vừa đấm vào cánh tay tôi - anh không có lời mời nào lịch sự hơn ư?

Tôi hiểu, tôi chỉ có một việc là tóm lấy tay nàng và kéo nàng vào trong ga.

Những chuyến tàu đi về giữa Osaka và Kyoto bao giờ cũng đông khách. Hai thành phố cách nhau khoảng bốn mươi cây số, đi tàu nhanh chỉ mất đúng bốn mươi tư phút. Osaka là thành phố kinh tế lớn thứ hai ở Nhật, chỉ sau thủ đô Tokyo, có nhiều việc làm. Vì thế, nhiều người làm việc ở Osaka nhưng vẫn sống ở Kyoto. Đôi khi tôi nghĩ, ai đã từng sống ở Kyoto thì chẳng bao giờ còn muốn chuyển đi một nơi khác, trừ khi vì một sức ép quá đáng nào đó.

Đã gần mười một giờ đêm, nhưng trên tàu vẫn có nhiều người vừa mới đi làm về. Phần lớn họ đều mặc vest đen và thắt cà vạt. Mới đây, thủ tướng Nhật lên ti-vi kêu gọi nhân viên văn phòng mặc pyjama mát mẻ đến công sở để giảm bớt tiêu hao điện năng dùng cho máy lạnh, nhưng xem chừng chẳng ai hưởng ứng cả. Khi mà lòng tự trọng của người Nhật vẫn khiến họ xấu hổ khi đi một đôi giày lấm bụi đến văn phòng (điều mà tôi chưa từng thấy trong thực tế, sau ba năm ở đây) thì việc xuất hiện trước người khác trong bộ pyjama xốc xếch, đối với họ, là một điều không thể tưởng tượng nổi.

Thỉnh thoảng, tôi cũng gặp những người đi làm còn trẻ. Họ có vẻ tùy tiện hơn trong cách ăn mặc, nhưng nếu quan sát kỹ sẽ nhận ra đó là một sự tùy tiện cố ý. Sự phá cách của họ dường như vẫn có chung một phong cách, và hoàn tòan không ám chỉ một sự cẩu thả. Gã trai đang đứng trước mặt tôi lúc này là một ví dụ. Tôi đoán mỗi buổi sáng, gã phải bỏ ra không dưới mười lăm phút đồng hồ để vuốt keo cho mái tóc bù xù chẳng khác gì một cái tổ chim của gã.

Tàu bắt đầu chạy, Ayumi mở túi lấy máy nghe nhạc và cắm headphone vào tai. Ở Nhật, người ta ít khi nói chuyện trên tàu, nếu có thì chỉ là những tiếng thì thào ngắn ngủn, bởi họ ngại làm phiền đến những người bên cạnh. Người đàn ông trung niên bên phải tôi đang ngủ gật. Một điều lạ là trong lúc ngủ, ông ta vẫn giữ được người nghiêm ngắn. Đầu ông ta hơi ngửa ra phía sau, miệng há to, hít thở một cách nặng nhọc. Ngồi kế bên ông ta là một người đàn bà khó đoán tuổi. Nét xuân sắc vẫn còn hiện rõ trên gương mặt sang trọng của bà, cho dù những vết chân chim sâu và dài ở đuôi mắt bà đã phản bội lại nó. Bà ngồi im, hơi nhìn xuống phía trước, không một chút để ý đến lão già ngồi bên cạnh bà. Lão già này ăn mặc rất sạch sẽ, cái đầu hói còn một ít tóc bạc của lão được chải thành nếp cẩn thận. Lão đang gí mắt vào tờ báo khổ rộng, có hình mấy đứa con gái cởi truồng, loại báo đăng quảng cáo dịch vụ massage tại gia, một dạng mại dâm trá hình, được phát miễn phí ở các cửa hàng bán băng đĩa người lớn. Có lẽ lão đang kiếm cho mình một bạn tình tính giờ trả tiền. Có lẽ, lão cô đơn.

Nghĩ đến đó, bất giác tôi đưa tay tìm tay Ayumi. Tôi đặt tay nàng vào trong lòng bàn tay mình, ngắm những ngón tay suôn dài của nàng một lúc, rồi nắm chặt lại. Tôi thường lo lắng bâng quơ mỗi khi cầm một cái gì đẹp và dễ vỡ.

Ayumi ngả đầu vào vai tôi. Thảng hoặc, tôi nghe tiếng xập xình lọt ra từ headphone. Nàng hay nghe J-pop và các loại nhạc điện tử, kiểu Yellow Magic Orchestra. Tôi gỡ chiếc headphone bên trái của nàng và cắm vào tai mình. Utada Hikaru đang hát.

"Lạc lối giữa tình bạn và tình yêu
Em như một quả xanh mơ tới ngày được hái

Em sợ rằng chúng ta đang ngần ngại
Mà tình yêu! Nếu không tiến tất lùi...

Khi anh nói lời cảm ơn em
Em nghe tim mình đau nhói
Trò ma thuật phía sau lời từ biệt
Gieo rắc những ảo giác ngọt ngào xen lẫn đắng cay

Phải đây chính là hương vị của cuộc sống?"

Giá như giữa lúc ấy chuyến tàu của chúng tôi đột ngột gặp sự cố phải dừng lại, có lẽ chúng tôi đã ngồi chụm đầu như thế nghe nhạc cho đến sáng.

Lúc chúng tôi xuống tàu thì có vài giọt mưa. Tôi nghe tiếng chúng rơi xuống đâu đấy trên vỉa hè. Trời đang động, không khí oi bức kinh khủng. Những cơn gió vật vã trong các tàng lá tối om. Lác đác một vài ngôi nhà vẫn còn sáng đèn. Trong một cái cửa sổ để mở trên tầng hai của một nhà bên đường , cái rèm cửa bị gió giật phần phật, có lúc tưởng muốn đứt lìa ra khỏi khung gỗ. Tôi chợt nhớ ra là đã quên đóng kín cánh cửa sau ban công trước khi đi.

Trong lúc Ayumi vào phòng tắm rửa mặt, tôi vội vàng dọn dẹp căn phòng của mình. Những cơn cuồng phong đi vào từ cửa sau đã xới tung căn phòng vốn đã chẳng lấy gì làm gọn gàng của tôi. Giấy tờ vương vãi khắp nơi. Tôi còn tìm thấy vài cái lá khô dưới sàn nhà và cả trong đống futon được cuốn lại để ở góc phòng.

Ayumi giúp tôi rải đệm và thay tấm ra trải lên trên. Có lẽ đã mấy tháng rồi tôi chưa thay tấm trải giường. Ayumi hình như không ngạc nhiên vì sự bừa bộn của căn phòng. Nàng đến bên chiếc bàn duy nhất trong phòng, nhặt lên cái vỏ đĩa phim "Tampopo" tôi đang xem dở.
- Em đã xem nó rồi chứ? - tôi vừa hỏi vừa ôm lấy nàng từ phía sau.

Ayumi bỏ cái đĩa xuống, quay người lại và bịt miệng tôi bằng một nụ hôn. Hơi thở nóng bỏng của nàng khiến tôi rạo rực. Tôi ngậm lấy lưỡi nàng và mút lấy mút để như một đứa nhỏ mút cây kem. Ayumi bật cười, nàng dụi đầu vào ngực tôi để tránh cái hôn, và nói rất nhỏ:
- Anh tắt đèn đi chứ.

Chúng tôi cởi quần áo của nhau trong bóng tối. Cả hai đứa đều đẫm mồ hôi. Cái điều hòa nhiệt độ mới bật lên, chưa kịp làm mát căn phòng. Tôi ôm siết Ayumi vào lòng và nhấc bổng nàng lên. Nàng rất nhẹ, và gầy đến mức đáng ngạc nhiên. Chỗ eo lưng của nàng có lẽ không dày đến nửa gang tay. Tôi đặt nàng lên đệm, khẽ khàng như đặt một chiếc lá khô lên thảm cỏ.

Một vài giọt mưa lớn đập vào cửa kính. Trời đất vẫn vật vã một cách khổ sở. Thỉnh thoảng, đôi ánh chớp nhì nhằng lọt vào phòng khiến tôi nhìn rõ gò ngực trắng xanh của Ayumi. Tôi vuốt ve hai bầu vú nhỏ nhắn, cảm giác như đang sờ thấy từng hơi thở đi ra từ lồng ngực của nàng. Bất chợt, từ đáy lòng tôi dội lên một cảm giác thương mến mênh mông, tôi cảm thấy dường như tôi và Ayumi đã thân quen từ lâu lắm, đã thuộc từng hơi thở của nhau, và không chừng chúng tôi còn có chung một huyết thống.

Ayumi có lẽ không nhìn thấy những suy nghĩ của tôi. Mắt nàng nhắm nghiền, hơi thở của nàng mỗi lúc một gấp gáp. Và dường như không thể kiên nhẫn được nữa, nàng nắm lấy tay tôi và đẩy xuống phía dưới.

- Mưa to quá, ướt hết cả vào trong này rồi - Tôi nói thầm vào tai nàng.

Ayumi không trả lời, chỉ bật lên một tiếng rên khe khẽ. Nàng ép sát vào người tôi như một cánh cung. Tôi vòng tay đỡ lấy lưng nàng và khẽ nghiêng người để nàng lật lên. Từ bên trên, nàng mở ra đón lấy dương vật tôi đang căng cứng. Nàng tỳ tay lên ngực tôi và cố gắng ngồi thẳng dậy. Những lọn tóc mềm đang phủ xuống mặt tôi từ từ nhấc lên và tan chảy xuống vai, rồi ngực nàng. Khoảnh khắc ấy, trông nàng như một nữ thần đang nhô lên khỏi mặt biển.

Mưa bắt đầu quất vào cửa kính ràn rạt. Những hạt bụi nước li ti chui qua những khe hở ở đâu đó tạt vào tận chỗ nằm. Không khí bỗng trở nên mát lạnh. Tôi nhắm mắt lại cảm nhận những chuyển động của Ayumi. Tôi nghe thấy những tiếng sấm ầm ì vọng lại từ rất xa, rồi tôi thấy hai đứa bé con là tôi và Ayumi chạy bắn ra đồng tắm mưa. Chúng tôi ngồi lên đầu những ngọn cỏ cao và mềm mại, uốn lượn không ngớt tạo nên những đợt sóng dài miên man. Chúng tôi dập dềnh trên những ngọn sóng ấy, bị chúng cuốn đi mỗi lúc một xa, mỗi lúc một nhanh hơn, đến mức chúng tôi không còn nhìn thấy, nghe thấy gì xung quanh nữa. Cả hai đứa đều cố hét lên, nhưng không nghe thấy gì ngoài tiếng u u bên tai, rồi có một tiếng sét rất lớn xé toang cả bầu trời và tất cả biến mất trong một luồng ánh sáng chói lòa.

Một lúc sau, luồng sáng ấy tắt ngấm, để lại bóng tối dày đặc. Ngoài hiên, mưa chuyển rì rào như ru. Tôi nghe tiếng Ayumi thì thào trước khi thiếp đi:

- Sắp sang mùa mưa rồi đấy.

Saturday, July 4, 2009

Kaz (11) - Biwako

Yosuke như đang ngồi trên than. Chưa bao giờ trong đời anh trải qua cảm giác này. Anh không thể tập trung vào bất cứ một công việc gì. Anh đang biên tập mấy truyện ngắn để đưa vào tập san văn học của khoa sẽ xuất bản vào tuần sau, nhưng anh không vừa ý với bất cứ tác phẩm nào trong số đó, bởi anh thấy chúng quá nhạt nhẽo.

Đã hơn một tháng nay anh không gặp Liên.

Từ những cuốn tiểu thuyết, Yosuke đã đọc được hàng nghìn câu chuyện ly kỳ về tình yêu nhưng chúng không có tác dụng nào giúp anh dập tắt những đám cháy trong tâm trí anh lúc này. Anh cuống cuồng tìm kiếm một công việc khả dĩ giúp mình thoát ra khỏi trạng thái đáng sợ này, dù chỉ một chốc. Nhưng vô vọng.

Thần tình yêu, nếu là một vị thần nhân đức, hẳn sẽ có ngày hối tiếc vì đã bắn trúng một con mồi yếu ớt như Yosuke.

Thực ra Yosuke đã từng có bạn gái, nói đúng hơn là đã từng cặp với một cô ở trường trung học. Cô ta đã có lần gạ cậu làm tình dưới gầm cầu thang ở trường. Sau khi ra trường, Yosuke không gặp lại cô ta một lần nào nữa. Anh đã rất ngạc nhiên với chính mình khi nhận thấy ký ức về cô ta biến mất một cách dễ dàng đến thế, như thể một sợi lông rụng ra từ một con ngỗng trời bay ngang qua.

Chính Yosuke cũng không biết anh yêu Liên từ lúc nào. Có lẽ tất cả đã diễn ra một cách từ từ trước đó, nhưng chính vào lần gặp nhau cuối cùng, Yosuke biết rằng thế giới của cậu đã bị đảo lộn.

Hôm ấy cũng là một ngày cuối tuần. Liên xuống thăm cha mẹ nuôi và biếu họ một gói cà phê Việt Nam mà bạn cô vừa mới mang sang. Bà Chikako gần như nghiện cà phê, và vì thế thường đuối lý mỗi lần bà khuyên ông Fusao bỏ thuốc lá và được ông đáp lại bằng cách khuyên bà bỏ cà phê. Liên đã để ý tìm trong các siêu thị có bán cà phê nhập khẩu, nhưng đều không thấy cà phê Việt Nam. Cô không phải là một người sành uống cà phê, nhưng những người bạn Nhật của cô đều khen cà phê Việt Nam hết lời, vì vậy cô nhất quyết phải để cho bà Chikako có cơ hội thưởng thức nó.

- Hôm nay nhiệt độ lên đến 38 độ đấy - Yosuke nói với Liên trong lúc ngồi uống trà trong phòng khách - Càng ngày thời tiết càng khắc nghiệt hay sao ấy. Những năm trước, thời điểm nóng nhất mùa hè cũng chỉ khoảng 36 độ, theo trí nhớ của tớ.

- Thì người ta vẫn bảo là do El Nino, với cả hiệu ứng trái đất nóng lên gì gì đấy thôi - Liên nói.

- Những vấn đề đó vẫn đang được tranh cãi, chưa hẳn đã đúng. Nhưng tớ thấy đúng là thời tiết có ấm lên, ba mùa đông vừa rồi đều không có tuyết - Yosuke nói.

- Thực ra là có chút ít, phải không? - bà Chikako nói - Mẹ nghe nói năm vừa rồi trên khu trượt tuyết thung lũng Biwako chẳng có mấy khách, vì tuyết mỏng quá.

- Liên-chan có biết chỗ ấy không nhỉ? - Yosuke quay sang Liên, và nhận được cái lắc đầu của cô - Để đến mùa đông, cả nhà mình sẽ lên đấy chơi. Từ đây đi chỉ mất độ một tiếng đồng hồ thôi.

Vẻ háo hức hiện rõ trong đôi mắt nâu mở to của Liên. Cô chưa bao giờ nhìn thấy tuyết ngoài đời. Trong trí tưởng tượng của cô, hiện ra hình ảnh một đêm Noel ấm cúng tràn, đầy ánh nến và tiếng thánh ca, trong khi bên ngoài cửa sổ tuyết vẫn rơi từng chùm, từng chùm - những hình ảnh mà cô thường thấy trong phim Mỹ.

- Từ bây giờ đến mùa đông còn lâu lắm - Yosuke cắt ngang dòng suy nghĩ của Liên - bây giờ Liên-chan có muốn ra hồ chơi một lúc không?

- Ý kiến hay đấy - bà Chikako nói - hai đứa ra ngoài một lúc cho thoáng. Mẹ sẽ ở nhà làm bữa tối.

- Con sẽ giúp mẹ - Liên nói.

- Không cần đâu, cứ đi đi - bà Chikako nói - Tuần này bố không về nên bữa tối sẽ hết sức đơn giản, mẹ chỉ làm một loáng là xong.

Lúc ấy đã sáu giờ chiều, mặt trời đã khuất hẳn sau dãy núi Hiei, nhưng hẵng còn lâu trời mới tối. Về mùa hè, sau khi nắng tắt vài ba tiếng, bầu không khí mới nguội hẳn. Yosuke lái xe theo những con đường nhỏ, uốn lượn. Những vệt cát chạy dọc hai bên vệ đường phủ đầy lá thông khô. Khung cảnh gợi lại ký ức của Liên về những lần đi biển miền Trung. Ngay cả cái nắng hầm hập cũng giống. Tất cả đều rất đỗi gần gũi.

Từ bãi đỗ xe, Yosuke và Liên phải leo qua một cái đồi thấp mới ra được bờ hồ. Xen lẫn giữa đám cỏ mọc cao, thấp thoáng những đóa hoa dại màu trắng mỏng mảnh. Liên cúi xuống bứt mấy nhánh và đưa lên mũi ngửi.

- Chẳng có mùi gì cả! - Liên nói.

- Cần phải có thời gian để nhận ra mùi thơm của những loài hoa dại - Yosuke nói - Một nhà văn nào đó đã nói như thế.

- Có lẽ câu nói ấy chỉ nên hiểu theo nghĩa bóng - Liên nói - Có những loài hoa không hề có hương, đúng không?

- Có thể không phải ngay lúc này, mà là hàng trăm năm nữa. Cứ hi vọng rằng một ngày nào đó, tất cả các loài hoa trên trái đất đều tỏa hương, được không? - Yosuke nói.

Liên không trả lời. Qua mắt kính cận dày cộp, Yosuke thấy cô mỉm cười.

Ra đến sát mép nước, Liên khỏa tay, thả mấy cọng hoa xuống nước. Nước đục và ấm. Những con sóng lăn tăn liếm vào bờ độ vài gang tay rồi biến mất. Không có tiếng sóng, dù chỉ là những tiếng óc ách nhỏ. Có thể hi vọng một ngày nào đó, tất cả các con sóng trên trái đất này đều cất tiếng hay không? Liên thầm nghĩ và cười một mình.

Hai người đi dọc bãi cát một quãng xa rồi ngồi xuống dưới một gốc thông cong queo, dường như đã được uốn để tạo dáng.

- Gió mát quá nhỉ - Liên nói - Chẳng khác gì gió biển, chỉ có điều không có vị mặn.

- Ở đây đã từng là biển đấy chứ, hàng vạn năm trước cơ - Yosuke nói - Sau đó, biển lùi ra xa và phần bị kẹt giữa các dãy núi tạo thành hồ Biwa này.

- Nếu thế thì nước hồ phải mặn chứ?

- Qua thời gian tất nhiên nó nhạt dần đi. Nhưng biển thì vẫn còn nhớ đến một phần máu thịt của nó ở đây - Yosuke nói - Một nỗi nhớ rất mặn.

- Biển nhớ ư? Có một bài hát Việt Nam rất hay, tên là "Biển nhớ", đã được dịch sang tiếng Nhật đấy. Yosuke đã nghe bao giờ chưa?

- Chưa. Tớ chưa từng nghe bài hát Việt Nam nào cả. Liên thử hát xem - Yosuke nói.

- Được thôi - Liên nói, và bắt đầu hát. Cô hát nhỏ nhưng vẫn rõ từng tiếng.

"Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về
Gọi hồn liễu rũ lê thê
Gọi bờ cát trắng đêm khuya..."

Đó là bài ca buồn nhất mà Yosuke từng nghe. Nó gần như một câu chuyện hoàn chỉnh về một mối tình vô vọng. Nó giống như bài hát của nàng tiên cá, hằng đêm vẫn ngồi hát dưới trăng để vợi đi nỗi nhớ chàng thủy thủ đa tình và bạc bẽo.

Yosuke ngắm nhìn Liên. Dựa người vào gốc cây, đầu vươn cao, cô hát một cách say mê. Mái tóc đen nhánh mềm mại xõa xuống bờ vai nhỏ nhắn của cô. Những cơn gió lẩn trốn trong mái tóc cô bồng bềnh tạo sóng. Trong bóng chiều đang lụi dần, màu áo vàng của cô tỏa những tia sáng đẹp đẽ cuối cùng của ngày.

Sunday, June 21, 2009

Kaz (10) - Ánh đèn trên cầu tàu

Mẫu số chung của mọi tình yêu là sự nhớ nhung. Nếu bạn chưa một lần bị thôi thúc bởi ý muốn gặp được người yêu của bạn bằng mọi giá, tôi e rằng bạn chưa bao giờ yêu người ấy. Nếu bạn có thể nghĩ ra một cách nào khác để sử dụng một tiếng đồng hồ rảnh rỗi của mình mà không hề nghĩ tới người yêu của bạn, tôi e rằng bạn không thực sự yêu cô ta. Và nếu bạn có thể sống yên ổn một mình trong mười hai tiếng đồng hồ mà không được nhìn thấy hoặc nghe thấy cô ấy nói thì tôi cho rằng tình yêu của bạn chỉ là một sự tưởng tượng đáng tiếc.

Tình yêu là phương thức đối mặt với nỗi cô đơn ở một người trưởng thành. Ở tuổi mới lớn, cái gọi là tình yêu giữa các cô cậu học sinh chỉ là một sự hiểu lầm về tính tò mò. Lớn hơn chút nữa, khi các cô cậu ấy nếm được một chút những va chạm xác thịt thì tình yêu là một lựa chọn trong số những trò giải trí gây nghiện, bên cạnh trò chơi điện tử và lướt Net. Khi nhục cảm không còn là yếu tố mới mẻ nữa, người ta cần một người tình trước hết để bầu bạn.

Trong suốt thời thơ ấu, chúng ta được dạy dỗ rất nhiều về cách làm đẹp lòng người khác khi giao thiệp với họ, nhưng chẳng ai dạy cho ta về cách đối mặt với nỗi cô đơn của chính mình.

Vì khoảng cách giữa hai thành phố, và công việc của cả hai, tôi và Ayumi thường chỉ có thể gặp nhau vào cuối tuần. Những ngày đầu tuần giống như khoảng mặt biển nằm giữa hai con sóng. Chúng lắc lư một cách nặng nề, dường như những dao động trên bề mặt cũng là dao động của cả một cột nước sâu. Và khi cơn sóng tiếp theo lừng vào, nó đột nhiên đứng lặng ngắt, dường như đang nín thở, chờ đợi - đó là những ngày giữa tuần. Ngày thứ sáu luôn bị cuốn lên cao, bị hẫng chân, gây cho tôi cảm giác hồi hộp khôn tả cho đến khi chân tôi chạm lại xuống đất, tóc và mặt tôi phủ đầy bọt sóng. Những cái bong bóng li ti bám vào da mặt tôi vỡ tanh tách như tiếng một đứa trẻ con cười.

Tôi thường dành nhiều thời gian của bữa ăn tối thứ sáu với Ayumi để ngắm nàng. Tôi đã mong chờ khoảnh khắc ấy suốt cả tuần, nói không ngoa một chút nào, như một kẻ chết khát mong được uống nước. Nơi tôi làm việc là học khu chỉ dành cho các ngành kỹ thuật, nơi hầu hết sinh viên và giáo sư là đàn ông. Có rất ít các cô gái, và số những cô xinh chỉ đếm trên đầu ngón tay. Tôi có thói quen, mỗi khi gặp một cô gái ở trường, tôi lập tức đưa cô ta vào bảng xếp hạng sắc đẹp theo đánh giá của riêng tôi. Không khó để nêu ra ba cô đầu bảng. Vị trí hoa hậu là một cô gái có khuôn mặt của Đức Mẹ Maria, nghiên cứu sinh khoa môi trường. Cô là người lai, mẹ cô là người Nhật di cư sang Brazil và lấy chồng bản xứ. Tôi biết tường tận như vậy bởi tôi đã đi ăn trưa vài bận với cô và vài người bạn chung của chúng tôi. Những hôm ấy, tôi hay bỏ bữa tối. Tiếp đến là một cô, trạc tuổi Ayumi, có lẽ đang học master. Tôi gặp cô trong thang máy vài lần, vào những hôm chiếc thang bỗng nhiên chạy nhanh một cách đáng ghét. Cô thứ ba là nhân viên phòng giáo vụ. Cô có cái eo mà tôi cam đoan rằng bất cứ phụ nữ nào nhìn thấy đều muốn bắt đầu ăn kiêng. Trong khi các vị trí thứ tư, thứ năm bị thay đổi thường xuyên, ba vị trí đầu bảng lại rất ổn định, cho đến khi cô hoa hậu học xong về nước, và vị trí của cô từ đấy đến nay vẫn được để trống, bởi tôi thấy việc đôn cô á hậu lên là rất khiên cưỡng.

Không có gì thảm hại hơn việc hàng ngày phải chứng kiến những khuôn mặt nam giới đăm chiêu và dáng đi lùi lũi của họ trong những hành lang hun hút của Trường đại học. Và vì thế, không có gì tưởng thưởng hơn việc được ngồi bên Ayumi thơm phức vào tối thứ sáu.

- Anh thích em gọi soda - Tôi nói với cô - Thứ ấy có nhiều bọt. Cảm giác khi nhìn những cái bọt vỡ rất thư giãn.

- Vậy anh gọi cho anh đi - Ayumi nói - Em cũng thích soda, tất nhiên không vì cùng lý do với anh, nhưng lần nào cũng soda, luôn luôn là soda thì rất kỳ cục.

- Anh ghét cái vị của nó - tôi nói - có lẽ vì anh là một kẻ háo ngọt.

- Anh đã thấy sự vô lý của anh chưa? Không nên khuyên người khác làm điều mà mình không thích - Ayumi nói.

- Em đọc Khổng Tử từ lúc nào thế? - tôi nói - "Đừng đưa người khác cái mà mình không muốn", ông ta đã nói chính xác như thế đấy.

- Chẳng cần đến Khổng Tử mới biết được điều đó. Anh thật là phù phiếm. Người như anh mà đi bán hàng thì chẳng ai mua cả, vì anh chỉ chăm chăm khuyên người ta mua cái anh thích thôi - cô ngừng lại một lát rồi nói tiếp - Công việc của em ở công ty đã dạy cho em rằng để bán được hàng thì không nên thích một món hàng nào một cách sâu sắc cả.

- Thật ư? Kể cả... - tôi vừa định nói ra một ý nghĩ thầm kín của mình, nhưng đã kịp ghìm lại.

Thấy tôi ngập ngừng, nhưng Ayumi không gặng hỏi. Tôi thấy hơi ngột ngạt, có lẽ vì hơi nước thoát ra từ mấy nồi súp đang sôi sùng sục trong bếp, ngay sau lưng chúng tôi và chỉ được ngăn cách bởi một cái quầy bằng gỗ cao ngang ngực. Hôm ấy, chúng tôi ăn tối ở một quán mỳ trong khu Chayamachi. Tôi đã đón chuyến tàu nhanh lúc sáu giờ tám phút để gặp nàng ở đây vào lúc bảy giờ. Quán có tên là Tô Châu, có lẽ được gọi theo quê hương của vợ chồng chủ quán, bởi tôi vẫn nghe họ nói với nhau bằng tiếng Trung Quốc. Nước súp ở đây có vị hơi cay cay, khác hẳn với mỳ Nhật. Và cũng chỉ ở đây mới có món gyoza luộc. Gyoza chính là món sủi cảo. Sủi cảo luộc là món ăn hàng ngày của người Trung Quốc, đặc biệt những ngày Tết, bởi họ quan niệm ăn món này thì công việc sẽ được suôn sẻ cả năm. Người Nhật không ăn sủi cảo luộc, họ thích ăn món này được rán giòn. Có lần tôi và Ayumi đã thử ăn gyoza luộc, nhưng nàng chỉ ăn được môt miếng. Rất may cho nàng (và vì thế, cho cả tôi), là tôi cũng không thích món này "một cách sâu sắc". Lý do chính để chúng tôi vào đây nhiều lần là món mỳ có nước súp cay. Ayumi có lẽ không phải là một người Nhật thuần túy theo cách hiểu của tôi - họ không biết ăn cay.

Cả hai chúng tôi húp hết hai tô mỳ một cách gọn gàng. Lúc đi ra khỏi quán, chúng tôi phải đi qua một dãy dài những người đang xếp hàng chờ chỗ. Cách chọn một quán mỳ ngon ở Nhật là căn cứ vào độ dài của hàng người đứng xếp trước cửa quán. Chúng tôi đã theo cách này trong lần đầu tiên đến đây.

Tháng sáu, trời đã chính thức chuyển sang mùa hạ. Những cặp đôi đi trên đường rất đông. Chúng tôi nắm tay nhau đi dọc những phố hẹp, đèn đuốc sáng choang và inh ỏi tiếng chào mời. Trước những hiệu bán thuốc và hóa mỹ phẩm, những mặt hàng hạ giá như thuốc đánh răng, kem bôi, sữa tắm, được cho vào rổ bày tràn cả ra đường. Chúng tôi rẽ vào một cửa hàng games và chơi trò đánh trống. Ayumi và tôi mỗi đứa cầm một cái dùi nhỏ bằng nhựa, đánh vào mặt trống điện tử dùng chung cho cả hai theo lượt của mình. Lượt đánh và vị trí đánh được hiển thị trên màn hình. Mặt trống được chia làm 5 khu vực, mỗi khu vực phát ra một âm riêng biệt, và nếu hai tay trống phối hợp với nhau đánh đúng bài thì kết quả sẽ cho một bản nhạc khá hay. Có điều làm được như vậy rất khó, và chúng tôi thường xuyên gõ vào tay nhau, trong đó có những lần có sự cố ý của tôi.

Rời cửa hàng trò chơi, chúng tôi đi ngược về phía ga Umeda.

- Ôi, bàn tay xinh đẹp tội nghiệp! Ta có thể làm gì để chuộc lại tội lỗi này? - tôi vừa nói theo một cách rất kịch, vừa vuốt ve bàn tay phải của nàng.

- Ừm, để xem nào - Ayumi ghếch ghếch đầu, làm bộ nghĩ ngợi. Kia, đúng rồi! - nàng reo lên và chỉ tay về phía toà nhà Hep Five - Chúng ta sẽ lên đu quay, nhé!

Bánh xe đu quay Hep Five được xây dựng trên nóc tòa nhà thương mại này. Việc đặt cái kết cấu khổng lồ cao hơn một trăm mét lên một tòa nhà bảy tầng thật không khác gì cắm một lá cờ lên củ xu hào. Quả là một ý tưởng đáng nể!

Bánh xe quay lên chậm chạp. Chúng tôi đứng bên cạnh nhau, nhìn xuống phố xá với những luồng đèn pha đan quét nhau một cách hỗn loạn ở ngay dưới chân. Được một lúc thì không còn nghe được tiếng động nào từ dưới vọng lên nữa, chỉ còn nhìn thấy xung quanh là những nóc nhà chọc trời. Có cảm giác như đang ngồi trong một ống đũa. Qua khúc ấy, bỗng nhiên tất cả mở toang ra trước mắt chúng tôi. Có thể nhìn thấy rõ từng đường nét cân đối của tòa thành Osaka cách đấy dăm cây số. Xa hơn, phía bên tay trái, là những ánh đèn trên các con tàu biển lớn đang đỗ trong cảng Osaka. Xa hơn nữa là một khoảng tối đen. Biển! Và không thấy đường chân trời.

Ayumi dựa người vào tôi, mái tóc lòa xòa của nàng cọ vào một bên má tôi buồn buồn. Tôi ôm lấy vai nàng và khẽ xoay nàng lại. Nàng ngước mắt lên. Trong khoảnh khắc ấy, tôi nghe được tiếng thở phập phồng của biển cả mênh mông dưới bầu trời đen thẳm, và nhìn thấy trong mắt nàng một chấm sáng le lói, rất nhỏ và cô độc, giống như ánh đèn trên một cầu tàu.