Saturday, January 16, 2010
Saturday, December 26, 2009
Friday, December 4, 2009
Sunday, November 29, 2009
Huy Bầu truyện
Friday, November 13, 2009
Friday, November 6, 2009
Hào truyện
Saturday, October 24, 2009
Hạo Nguyên
Thursday, October 1, 2009
Văn tế xe máy
Monday, September 7, 2009
Nam công chúa truyện
Tuesday, September 1, 2009
Friday, August 21, 2009
Thăm Yasukuni

Saturday, August 15, 2009
Kaz (14) - Yoiyama
Saturday, August 8, 2009
Đọc thơ cho vợ (3) - Kỳ 2
Cuối tháng, tôi treo tất cả xung quanh một chiếc gương
Đó là chiếc gương chỉ khi buồn bã
Tôi mới cởi mặt nạ ra để ngắm nhìn mình
Những sai lầm luôn thay dạng đổi hình
Chúng rình rập tôi sau những câu cảm thán
Tôi thấy rõ chúng chẳng chây lười
Chúng dậy sớm, và ngồi chờ tôi một cách bình thản
Tôi hay ví chúng với những viên đạn
Mà tôi bắn vào mọi so bì thiệt hơn
Những sai lầm quện với nhau thành bè bạn
Bất cứ lúc nào tôi cũng cô đơn.
Ai vừa qua đời bên kia bản tin?
Ai phí một chăm sóc?
Chao ôi, đất
Lại phải giấu giếm mãi không thôi
Có một cái tên
Bay lên
rồi tan
Tên gì nghe nhàm nhàm
Mọi người có những cái tên nhàm nhàm
Sao không biết chán?
Cả số phận nữa
Nếu nhàm nhàm
Sao không để nó bay lên?
Chết nhạt quá
Bản tin thoăn thoắt quá
Ngày đấy chăng?
Tôi ngồi nhạt quá
Rất bị động
Lẫn lộn giữa mưa tin
Người phát ngôn
Giọng quả quyết
Rằng người có cái tên nhàm nhàm đó đã chết
Sao anh nói say mê thế
Về sự ra đi của một con người?
Tôi ngồi rỗng mặt
Mưa tin tạnh lúc mấy giờ?
(Bản tin cuối ngày)
Cụm ý nghĩ, xoắn vào nhau, điên đến nơi
Nhưng tôi thì chưa
Bình tĩnh châm thuốc hút
Thành phố ngủ
Giấc mơ loè loẹt điên loạn
Nó đồng sàng với những người ngủ
Ngay cả đốm đỏ lửa
Trên đầu điếu thuốc
Cũng có vẻ loé điên
Mặt trời rõ điên rồi còn gì
Chực chờ một giấc ngủ sâu thẳm
Tôi bình tĩnh lắm
Hơi run lên ngón tay
Vì cái bóng tôi trên tường
Lẳng lặng chuồn ra những gốc cây
Chúng điên cả rồi
Một vườn ươm những giấc mơ loè loẹt ấy
(Phát điên)
Tôi thấy phi lý nhảy dựng lên
Điếu thuốc cuối cùng đã tắt
Buổi sáng lén lút cười giữa đống chăn.
Friday, July 31, 2009
Đọc thơ cho vợ (3) - Kỳ 1
Dòng sông vắng khách, con đò trầm ngâm
Bụi tre thích đứng cười thầm
Giàn bầu, giàn bí thích cầm tay nhau
Con chim sẻ nhớ bẹ cau
Con chào mào lại nhớ màu ổi ương...
Lòng tôi lắm ngách nhiều đường
Trẻ con theo phía trống trường mà đi
Mặt trời vừa giống hòn bi
Lại vừa giống điểm bài thi hôm nào...
Tuổi tôi câu cá bờ ao
Chợt mong chẳng có con nào cắn câu
Tuổi tôi bám chặt lưng trâu
Vượt sông mà ngắm nhịp cầu bắc ngang
Tuổi tôi ra đứng đầu làng
Để xem màu nắng có vàng như hoa?
Tuổi tôi sục sạo khắp nhà
Tìm sao cho đủ tiếng gà ban trưa
Tuổi tôi chạy giữa cơn mưa
Thương con kiến cánh bay chưa kịp về
Tuổi tôi cắt cỏ ven đê
Những khi đầy gánh lại khe khẽ buồn
Tuổi tôi lúc ngắm hoàng hôn
Lo cho diều giấy vẫn còn trên cao
Tuổi tôi có lối rẽ vào
Suốt đời bước thấp, bước cao - Tôi tìm.
Trời thử bụng ta
Có mùa thóc lép
Lợp trên mái nhà...
Có mùa hoa cà
Tự nhiên tím tái
Bà ví lông gà
Vàng như vườn cải
Ông ví mặt trời
Như lời mối lái
Đêm đêm mò về làng
Mắt như sao rơi xuống đất
Mỗi chiếc lông rụng
Mang theo một hạt bụi
Của núi đồi
Nếu không lạc vào những tiếng chuông trên mặt nước
Rồi đuổi theo em áo vàng trong cánh đồng ngô
Bắp tròn hạt mẩy
Lằn mãi phía tôi đi
Một tuổi thơ chân không ấm ức
Bà tôi chỉ phía cánh đồng sáng rực
Bảo rằng, nơi ấy mặt trời
Đang rèn những lưỡi cày sáng loáng
Để xới tung lên những kiếp người.
Ai sẽ đánh luống cho cuộc đời tôi?
Để mỗi sớm mọc lên một mầm cây bé tí
Ai sẽ be bờ cho dòng chảy tôi?
Một con mương trong xanh không nghỉ.
Saturday, July 25, 2009
Kaz (13) - Ví dụ như tình yêu
Địa điểm được chọn là nhà riêng của bà Sato hội trưởng, cách nhà Kazuhito không xa. Ông Sato là giám đốc một bệnh viện tư, là bạn chơi golf với ông Fusao.
Ông bà Fusao đi sang nhà Sato từ đầu giờ chiều để phụ giúp công việc chuẩn bị. Yosuke ở nhà, anh đợi điện thoại của Liên để đón cô ở nhà ga và sẽ đến sau. Mong mỏi là một từ không đủ mạnh để miêu tả tâm trạng của anh lúc này. Nếu nhìn thấy anh đứng ngồi bứt rứt trong phòng suốt cả buổi sáng, người ta dễ dàng liên tưởng đến một con chó bị ong đốt ở mông.
Thoáng thấy Liên ra khỏi cửa ga, Yosuke đã nhận ra cô vừa mới cắt tóc. Mái tóc của cô đã được cắt ngắn đi một nửa.
- Tớ vừa nhận một công việc chạy bàn bán thời gian trong một tiệm ăn - cô giải thích với Yosuke trên đường đi - Để tóc dài thì rất vướng nên tớ vẫn phải buộc lên. Vả lại, sau mỗi buổi làm tớ lại phải gội đầu cho hết mùi thức ăn ám vào, cắt gọn bớt thì gội đầu sẽ đỡ mất thời gian hơn.
- Như thế này trông cậu năng động hơn - Yosuke nói. "Và vẫn đẹp như trước", anh nghĩ bụng, nhưng không dám nói ra. Khiếm khuyết lớn của một người đàn ông là không dám tán thưởng nhan sắc của phụ nữ trước mặt họ. Yosuke hình như đã đọc được câu ấy ở đâu đó, nhưng anh không hoàn toàn đồng ý. Giống như nhiều đàn ông Nhật, anh khá cả thẹn trước phụ nữ.
Cơ ngơi của ông bà Sato rất đồ sộ. Ngôi nhà ba tầng sơn màu trắng có hai gara, để được bốn chiếc xe. Phía trước nhà và hai bên lối vào trồng cây triêu nhan có hoa màu hồng và trắng, được cắt tỉa gọn ghẽ.
Bà Sato là một nghệ nhân. Bà dẫn Liên và Yosuke vào phòng khách, cho họ xem những tấm thiệp được bà vẽ bằng màu nước và những tấm thiệp ảnh chụp cận cảnh hoa lá. Liên rất thích những chiếc khay gỗ xinh xắn sơn màu sáng dùng để trang khí phòng khách và các bức tranh thêu cườm rất tỷ mỷ mà theo bà Sato, phải mất hàng tuần mới hoàn thiện được một bức.
Trà thất nằm cạnh phòng khách. Đó là căn phòng duy nhất trong ngôi nhà được trần thiết theo kiến trúc truyền thống Nhật Bản, sàn nhà lát bằng chiếu tre, các bức vách và cửa trượt đều có khung gỗ và căng giấy cứng. Khoảng hõm tokomona nằm bên tay trái, trên tường có treo một bức trướng rộng cỡ hai bàn tay viết chữ "Hòa". Dưới bức trướng là một lọ hoa hình chữ nhật bằng gốm màu đen. Lối cắm hoa chabana dùng trong trà thất có nguồn gốc từ nghệ thuật ikebana nổi tiếng của người Nhật, nhưng được đơn giản hóa đi nhiều để đạt được sự thanh thoát, gần gũi với thiên nhiên, như tôn chí của trà đạo.
Ngoài gia đình Kazuhito còn có bốn gia đình khác nữa được mời. Các vị khách lần lượt ngồi xuống theo ba cạnh của hình chữ nhật, cạnh còn lại chính là lối đi từ cửa phòng vào đến chỗ đặt lò. Lò đun bằng than củi, nhưng không thấy khói, cũng chẳng ngửi thấy mùi khói. Bà Chikako mặc áo yukata màu xanh da trời có họa tiết sóng biển trắng xóa, đang quỳ trước lò đun nước. Từ phía sau, Liên thấy trong mái tóc vấn cao của bà có đôi sợi bạc. Chợt Yosuke quay sang hỏi nhỏ, “Liên dự trà đạo bao giờ chưa?”. Liên lắc đầu. Cô chỉ mới có một lần xem trên ti-vi, và đã ái ngại trước những thủ tục rườm rà và máy móc của một buổi trà đạo, những nghi thức quá đỗi xa lạ đối với cô. Nhưng lúc này cô không có cảm giác ấy. Bên cạnh cô là Yosuke. Không biết từ lúc nào, cô thấy lòng mình thật yên ổn mỗi khi ngồi bên anh.
Từ cửa, bà Nagashima, một trà nhân khác, đi vào. Bà quỳ gối, đặt xuống trước mặt ông Fujita ngồi ngoài cùng một khay sơn mài đựng những chiếc bánh vuông vức, dường như được xén ra từ cùng một cái bánh to. Bà duỗi hai tay ra phía trước, rồi gập người xuống sát mặt chiếu, nói, “Xin mời ông thưởng thức bánh”. Đáp lại bà Nagashima, ông Fujita cũng làm đúng như thế và nói “Xin cảm ơn”.
Không phải mọi người Nhật đều thông thuộc các nghi thức của trà đạo. Ông Fujita là một ví dụ. Bà Nagashima phải chỉ cho ông cách dùng miếng cật tre để cắt bánh trong đĩa và đưa lên miệng. “A, hóa ra là vậy!”, ông Fujita nói một cách hồn nhiên, khiến mọi người bật cười.
Bà Nagashima chuyển đĩa bánh sang người kế tiếp và lặp lại mọi nghi thức đã làm trước đó với ông Fujita. Cứ như thế cho đến lượt Liên, rồi Yosuke nhận bánh. Đó là một loại bánh làm bằng đậu đỏ, ngọt gay gắt, đến mức ăn xong bánh, người ta lập tức cảm thấy khát nước.
Nước trong siêu sôi liu riu. Bà Chikako mở nắp siêu, múc nước bằng một chiếc gáo tre nhỏ, rót vào cái bát đã bỏ sẵn bột trà xanh xay nhuyễn, khuấy nhẹ mấy vòng cho trà tan hết. Tất cả những việc ấy, bà đều làm bằng một tay, vì tay trái được dùng để đỡ lấy ống áo rộng của tay phải. Bà Nagashima nhận lấy bát nước và mang đến mời ông Fujita giống như cách bà mời bánh. “Thật là quá quắt!” – một người ngoại quốc có thể sẽ nghĩ – “phải quỳ lạy đến hai lần mới được một miếng bánh bé tẹo với một hớp nước”, nhưng nếu người đó đến đất nước này và chứng kiến người Nhật cúi chào nhau tới dăm bảy lượt trong mỗi lần gặp gỡ thì sẽ thấy những nghi lễ của trà đạo là cần thiết. Đối với người Nhật, biểu lộ sự tôn kính không bao giờ là thừa, dù là đối với con người hay đối với thiên nhiên, hay đồng thời cả hai, như mỗi lần trà nhân và khách cúi lạy nhau trong buổi thiết trà: Bánh và trà bao giờ cũng được đặt ở giữa, trước mặt họ. Chúng chính là biểu tượng của sự sống, là ân hưởng của thiên nhiên dành cho con người. Cúi lạy, trước hết là để tỏ lòng biết ơn trước cuộc sống và sự Thiêng liêng đã tạo ra nó, rồi mới đến người đang đối diện với ta, người chia sẻ với ta khoảnh khắc này. Nếu nói trà đạo là một nghi lễ tôn giáo cũng không sai, bởi khởi nguyên, trà chỉ được dùng để dường cúng Phật. Các nhà sư Nhật Bản hàng trăm năm trước đã sáng tạo ra trà đạo, như một phần của Đạo, và nó chỉ được tiến hành trong khuôn khổ nhà chùa. Giới quý tộc đã đưa nó về trai thất của tư gia, rồi từ đó trà đạo đã thấm vào đời sống của bách tính. Nét đẹp khác biệt của trà đạo so với những nghi lễ tôn giáo khác là sự giao cảm giữa những người tham dự, thay vì sự tụng niệm một chiều của kẻ tu hành đối với thánh phật của họ.
Trà đã được mang đến cho Liên. Cô bắt chước những người ngồi trước làm các động tác cúi chào khá thuần thục, tuy không chắc là tư thế tay của mình có hoàn toàn đúng hay không. Cô nâng bát trà lên ngang mặt và đặt nó vào lòng tay trái, rồi quay sang Yosuke nói nhỏ: "Tớ phải xoay bát mấy vòng?". "Hai lần", Yosuke đáp, "Và dừng lại ở chỗ nào có hoa văn đẹp nhất". Bát uống trà bằng gốm men sần, màu nâu bóng, những chỗ có hoa văn vẽ các hình vuông lồng vào nhau được tráng men bóng màu ngọc. Nước trà cũng có màu xanh ngọc, trên mặt nổi rất nhiều bong bóng. Liên có cảm giác những cái bọt mỏng ấy vỡ lách tách trong miệng cô. Cô không có ấn tượng gì đặc biệt về hương vị của trà. Đó là một thứ trà rất nhạt, và chắc chắn sẽ không gây cho ai mất ngủ.
Yosuke là người cuối cùng được uống trà. Khi cậu uống xong, bà Nagashima thu dọn khay bát và mang xuống bếp. Liên để ý thấy bà dịch chân, xoay người sang phải một chút rồi mới đứng dậy, và khi bà bước đi, cả bàn chân đều chạm đất, vì thế nói đúng hơn là thay vì bước, bà đang rê chân trên chiếu. Mỗi bước đi của bà phát ra tiếng xoàn xoạt, cho đến khi bà ra khỏi trà thất.
Khi buổi lễ kết thúc, Liên không thể tự mình, mà phải vịn tay Yosuke mới đứng lên nổi. Cả hai chân cô đều tê rần, không có cảm giác gì, hậu quả của việc xếp chân quỳ quá lâu. "Ôi, lần sau thì tớ sẽ không ngồi kiểu seiza này nữa đâu!", Liên ngượng nghịu nói với Yosuke. Thực ra, cô đã có thể ngồi theo kiểu nào tùy ý, giống như những người đàn ông, nhưng vì thấy tất cả phụ nữ trong phòng đều quỳ nên cô không muốn làm khác.
"Cậu đi lại một chút là sẽ hết ngay thôi mà", Yosuke nói, "Cậu có muốn đi dạo một lúc không?".
Họ ra khỏi nhà và đi về phía núi. Nắng không còn gay gắt như buổi trưa, nhưng cái nóng thiêu đốt thì vẫn còn hầm hập. Hai bên con đường đất đi lên núi, thỉnh thoảng họ lại gặp vài vạt cỏ khô rạc và những mảng rêu cong bong ra khỏi mặt một tảng đá lớn bạc phếch. Ve kêu inh ỏi. Một con ve núp trong bụi keo bên đường đột ngột réo lên, âm thanh của nó kéo thành từng sợi mỏng, căng đét tưởng như có thể sờ thấy từng sợi một. Đến chỗ cao trào, tiếng réo của nó chuyển sang giọng kim, âm lượng nhỏ nhưng nhọn hoắt, chích vào màng nhĩ người ta không chút thương xót.
- Bọn ve mồm miệng khiếp thật - Yosuke lẩm bẩm - Nghe mà muốn phát điên.
- Hay chứ - Liên nói - Chúng làm nhớ tới mùa hè cuối cùng của thời trung học. Nhớ lắm ấy! Chúng tớ tặng nhau những bông phượng ép vào vở. Đấy là một loài hoa màu đỏ rực, đỏ hơn bất cứ loài hoa nào, chỉ nở vào mùa hè. Ở Nhật không có, nhưng ở Việt Nam thì rất nhiều, ở đâu cũng có thể bắt gặp nó. Bọn con gái chúng tớ tìm những bông hoa phượng đầu tiên để hái và cho vào vở ép. Đến lúc bế giảng năm học thì chúng cũng vừa khô, nhưng màu đỏ của chúng thì vẫn thế. Đỏ rực. Chúng tớ xếp những cánh hoa đỏ ấy thành hình trái tim, hình đôi môi hoặc những hình khác đại loại thế. Lúc chia tay nhau, chúng tớ lấy những tấm hình ấy ra tặng nhau, đứa nào cũng khóc. Chẳng có đứa nào không khóc cả, cậu có tin không? Nghe sướt mướt quá, phải không, nhưng sự thực đúng là như thế đấy.
- Thời trung học của tớ - Yosuke nói - Chẳng có cái gì đáng nhớ cả. Thậm chí còn rất tồi tệ nữa là đằng khác.
- Sao lại có thể như vậy được? - Liên kêu lên - Tớ thấy những người bạn thân nhất của mình là từ thời trung học. Chúng tớ cứ như chị em của nhau ấy, học cùng nhau, đi chơi cùng nhau, cái gì cũng có thể chia sẻ với nhau được. Lên đại học, tớ cũng có những người bạn mới, nhưng hình như mỗi người đều có những mối quan tâm riêng, chẳng hết lòng như thời trung học được nữa.
- Trong đời, tớ chỉ có hai người bạn - Yosuke nói - Một người tên là Sagawa. Cậu ấy chơi với tớ từ nhỏ, cho đến khi chúng tớ học lớp 5, gia đình cậu ta chuyển lên Yokohama. Lên trung học thì tớ chỉ chơi với thằng Morinaka. Cậu ấy không giống tất cả những người khác. Cậu ấy có những sở thích riêng và ít khi đàn đúm với đám đông. Tớ cũng thế. Mới đầu, hai đứa chúng tớ cứ như hai cái dép lạc, mỗi cái một góc nhà, chẳng đứa nào nói chuyện với đứa nào, cũng chẳng nói chuyện với ai khác. Một bữa, giờ giải lao, tớ ngồi trong lớp đọc sách, nếu tớ nhớ không nhầm thì đấy là cuốn "Tà dương" của Osamu Dazai, thì Morinaka đến bên cạnh tớ, hỏi "Cậu đọc gì đấy?". Tớ chìa sách cho cậu ta xem, cậu ta bảo "Hôm trước tớ cũng vừa mới đọc nó. Tớ còn mấy cuốn nữa của Osamu Dazai, nếu cậu thích thì tớ cho mượn". Đấy, mọi chuyện bắt đầu như thế.
Liên và Yosuke đã lên đến chỗ nghỉ chân trên đỉnh núi. Chỗ ấy, người ta dựng một cái mái che, kích cỡ bằng một cái nhà chờ xe buýt, bên dưới kê hai băng ghế bằng bê tông được sơn phết trông như làm bằng gỗ. Từ chỗ ấy nhìn xuống, có thể nhìn thấy một nửa hồ Biwa, một nửa kia bị một quả núi khác che khuất. Lên cao, gió nhiều hơn và mát hơn. Liên gỡ dây buộc tóc, xõa chúng xuống trước ngực bên phải và se chúng giữa những ngón tay.
- Cậu vẫn còn gặp Morinaka chứ? - Liên nói.
- Không. Cậu ấy chết rồi - Yosuke đáp lại.
- Sao lại chết? - Liên thảng thốt.
- Cậu ấy tự sát - Yosuke nói - Cậu ấy lên tàu đi Wakayama, ra mũi Shirahama và nhảy xuống. Chỗ ấy vách núi nhô ra biển rất cao. Nhảy xuống là chết chắc.
- Nhưng tại sao cậu ấy lại làm thế?
- Tớ cũng không rõ - Yosuke nói - Chẳng ai biết rõ. Cậu ấy không để lại thư tuyệt mệnh. Nhưng tớ nghĩ là do cậu ấy buồn chán. Cậu ấy thường nói với tớ, cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì cả, và muốn biết cái gì sẽ xảy ra sau khi chết đi. Đôi khi, tớ cũng có ý nghĩ ấy.
Liên rùng mình. Cô bị sốc khi nghe Yosuke nói câu ấy, cô quay sang nhìn anh. Yosuke vẫn ngồi thẳng, có vẻ như đang dõi theo mấy cánh buồm trắng đi lại trên hồ. Liên nắm lấy cánh tay Yosuke, như muốn níu giữ một cái gì sắp sửa tuột đi mất. Yosuke quay sang, gỡ tay cô và giữ nó lại trong tay mình.
- Đừng sợ, Liên - Anh hơi nhoẻn cười - Quả là trước đây tớ thường có ý nghĩ bệnh hoạn ấy. Nhưng bây giờ thì hết rồi. Có điều là gần đây, tớ lại mắc phải một chứng bệnh khác, bệnh tương tư. Chẳng hiểu sao tớ nhớ Liên rất nhiều, và chỉ mong được gặp cậu. Tớ nghĩ là tớ yêu cậu mất rồi.
Liên run lên. Cô muốn khóc, nhưng không thể. Cô gục vào ngực anh. Cô cũng không thể nói nên lời, rằng cô nhớ anh biết bao. Cuộc sống của cô ở Nhật đang phải trải qua những khó khăn quá sức chịu đựng, điều mà cô chưa thổ lộ với ai. Không ai biết những lúc cô ngồi trong bóng tối hàng giờ, khóc, nhưng nỗi khổ tâm của cô không vơi đi cùng nước mắt. Cô căm hận, cô nguyền rủa những kẻ đã gây ra bi kịch cho cô, cho gia đình cô. Nhưng lời nguyền rủa của cô không thể đến tai chúng, không giết được chúng. Những con quỷ đội lốt người ấy vẫn sống nhơn nhơn. Thế giới này đầy rẫy những con quỷ như thế. Cô chực nguyền rủa cả thế giới, nhưng kịp dừng lại khi nhớ đến những gì anh đã nói với cô trong những lần họ gặp nhau. Anh đã đọc cho cô rất nhiều thơ. Chúng lấp lánh như những viên kim cương, và hễ cô nhớ đến anh và những câu thơ của anh, cô thấy lòng mình rung lên như trăm ngàn chuông nhỏ. Lúc ấy, cô tin, đâu đó, trong cuộc đời này, vẫn có những điều kỳ diệu.
Ví dụ như tình yêu.
Saturday, July 11, 2009
Kaz (12) - Cơn mưa
Saturday, July 4, 2009
Kaz (11) - Biwako
Sunday, June 21, 2009
Kaz (10) - Ánh đèn trên cầu tàu
Mẫu số chung của mọi tình yêu là sự nhớ nhung. Nếu bạn chưa một lần bị thôi thúc bởi ý muốn gặp được người yêu của bạn bằng mọi giá, tôi e rằng bạn chưa bao giờ yêu người ấy. Nếu bạn có thể nghĩ ra một cách nào khác để sử dụng một tiếng đồng hồ rảnh rỗi của mình mà không hề nghĩ tới người yêu của bạn, tôi e rằng bạn không thực sự yêu cô ta. Và nếu bạn có thể sống yên ổn một mình trong mười hai tiếng đồng hồ mà không được nhìn thấy hoặc nghe thấy cô ấy nói thì tôi cho rằng tình yêu của bạn chỉ là một sự tưởng tượng đáng tiếc.
Tình yêu là phương thức đối mặt với nỗi cô đơn ở một người trưởng thành. Ở tuổi mới lớn, cái gọi là tình yêu giữa các cô cậu học sinh chỉ là một sự hiểu lầm về tính tò mò. Lớn hơn chút nữa, khi các cô cậu ấy nếm được một chút những va chạm xác thịt thì tình yêu là một lựa chọn trong số những trò giải trí gây nghiện, bên cạnh trò chơi điện tử và lướt Net. Khi nhục cảm không còn là yếu tố mới mẻ nữa, người ta cần một người tình trước hết để bầu bạn.
Trong suốt thời thơ ấu, chúng ta được dạy dỗ rất nhiều về cách làm đẹp lòng người khác khi giao thiệp với họ, nhưng chẳng ai dạy cho ta về cách đối mặt với nỗi cô đơn của chính mình.
Vì khoảng cách giữa hai thành phố, và công việc của cả hai, tôi và Ayumi thường chỉ có thể gặp nhau vào cuối tuần. Những ngày đầu tuần giống như khoảng mặt biển nằm giữa hai con sóng. Chúng lắc lư một cách nặng nề, dường như những dao động trên bề mặt cũng là dao động của cả một cột nước sâu. Và khi cơn sóng tiếp theo lừng vào, nó đột nhiên đứng lặng ngắt, dường như đang nín thở, chờ đợi - đó là những ngày giữa tuần. Ngày thứ sáu luôn bị cuốn lên cao, bị hẫng chân, gây cho tôi cảm giác hồi hộp khôn tả cho đến khi chân tôi chạm lại xuống đất, tóc và mặt tôi phủ đầy bọt sóng. Những cái bong bóng li ti bám vào da mặt tôi vỡ tanh tách như tiếng một đứa trẻ con cười.
Tôi thường dành nhiều thời gian của bữa ăn tối thứ sáu với Ayumi để ngắm nàng. Tôi đã mong chờ khoảnh khắc ấy suốt cả tuần, nói không ngoa một chút nào, như một kẻ chết khát mong được uống nước. Nơi tôi làm việc là học khu chỉ dành cho các ngành kỹ thuật, nơi hầu hết sinh viên và giáo sư là đàn ông. Có rất ít các cô gái, và số những cô xinh chỉ đếm trên đầu ngón tay. Tôi có thói quen, mỗi khi gặp một cô gái ở trường, tôi lập tức đưa cô ta vào bảng xếp hạng sắc đẹp theo đánh giá của riêng tôi. Không khó để nêu ra ba cô đầu bảng. Vị trí hoa hậu là một cô gái có khuôn mặt của Đức Mẹ Maria, nghiên cứu sinh khoa môi trường. Cô là người lai, mẹ cô là người Nhật di cư sang
Không có gì thảm hại hơn việc hàng ngày phải chứng kiến những khuôn mặt nam giới đăm chiêu và dáng đi lùi lũi của họ trong những hành lang hun hút của Trường đại học. Và vì thế, không có gì tưởng thưởng hơn việc được ngồi bên Ayumi thơm phức vào tối thứ sáu.
- Anh thích em gọi soda - Tôi nói với cô - Thứ ấy có nhiều bọt. Cảm giác khi nhìn những cái bọt vỡ rất thư giãn.
- Vậy anh gọi cho anh đi - Ayumi nói - Em cũng thích soda, tất nhiên không vì cùng lý do với anh, nhưng lần nào cũng soda, luôn luôn là soda thì rất kỳ cục.
- Anh ghét cái vị của nó - tôi nói - có lẽ vì anh là một kẻ háo ngọt.
- Anh đã thấy sự vô lý của anh chưa? Không nên khuyên người khác làm điều mà mình không thích - Ayumi nói.
- Em đọc Khổng Tử từ lúc nào thế? - tôi nói - "Đừng đưa người khác cái mà mình không muốn", ông ta đã nói chính xác như thế đấy.
- Chẳng cần đến Khổng Tử mới biết được điều đó. Anh thật là phù phiếm. Người như anh mà đi bán hàng thì chẳng ai mua cả, vì anh chỉ chăm chăm khuyên người ta mua cái anh thích thôi - cô ngừng lại một lát rồi nói tiếp - Công việc của em ở công ty đã dạy cho em rằng để bán được hàng thì không nên thích một món hàng nào một cách sâu sắc cả.
- Thật ư? Kể cả... - tôi vừa định nói ra một ý nghĩ thầm kín của mình, nhưng đã kịp ghìm lại.
Thấy tôi ngập ngừng, nhưng Ayumi không gặng hỏi. Tôi thấy hơi ngột ngạt, có lẽ vì hơi nước thoát ra từ mấy nồi súp đang sôi sùng sục trong bếp, ngay sau lưng chúng tôi và chỉ được ngăn cách bởi một cái quầy bằng gỗ cao ngang ngực. Hôm ấy, chúng tôi ăn tối ở một quán mỳ trong khu Chayamachi. Tôi đã đón chuyến tàu nhanh lúc sáu giờ tám phút để gặp nàng ở đây vào lúc bảy giờ. Quán có tên là Tô Châu, có lẽ được gọi theo quê hương của vợ chồng chủ quán, bởi tôi vẫn nghe họ nói với nhau bằng tiếng Trung Quốc. Nước súp ở đây có vị hơi cay cay, khác hẳn với mỳ Nhật. Và cũng chỉ ở đây mới có món gyoza luộc. Gyoza chính là món sủi cảo. Sủi cảo luộc là món ăn hàng ngày của người Trung Quốc, đặc biệt những ngày Tết, bởi họ quan niệm ăn món này thì công việc sẽ được suôn sẻ cả năm. Người Nhật không ăn sủi cảo luộc, họ thích ăn món này được rán giòn. Có lần tôi và Ayumi đã thử ăn gyoza luộc, nhưng nàng chỉ ăn được môt miếng. Rất may cho nàng (và vì thế, cho cả tôi), là tôi cũng không thích món này "một cách sâu sắc". Lý do chính để chúng tôi vào đây nhiều lần là món mỳ có nước súp cay. Ayumi có lẽ không phải là một người Nhật thuần túy theo cách hiểu của tôi - họ không biết ăn cay.
Cả hai chúng tôi húp hết hai tô mỳ một cách gọn gàng. Lúc đi ra khỏi quán, chúng tôi phải đi qua một dãy dài những người đang xếp hàng chờ chỗ. Cách chọn một quán mỳ ngon ở Nhật là căn cứ vào độ dài của hàng người đứng xếp trước cửa quán. Chúng tôi đã theo cách này trong lần đầu tiên đến đây.
Tháng sáu, trời đã chính thức chuyển sang mùa hạ. Những cặp đôi đi trên đường rất đông. Chúng tôi nắm tay nhau đi dọc những phố hẹp, đèn đuốc sáng choang và inh ỏi tiếng chào mời. Trước những hiệu bán thuốc và hóa mỹ phẩm, những mặt hàng hạ giá như thuốc đánh răng, kem bôi, sữa tắm, được cho vào rổ bày tràn cả ra đường. Chúng tôi rẽ vào một cửa hàng games và chơi trò đánh trống. Ayumi và tôi mỗi đứa cầm một cái dùi nhỏ bằng nhựa, đánh vào mặt trống điện tử dùng chung cho cả hai theo lượt của mình. Lượt đánh và vị trí đánh được hiển thị trên màn hình. Mặt trống được chia làm 5 khu vực, mỗi khu vực phát ra một âm riêng biệt, và nếu hai tay trống phối hợp với nhau đánh đúng bài thì kết quả sẽ cho một bản nhạc khá hay. Có điều làm được như vậy rất khó, và chúng tôi thường xuyên gõ vào tay nhau, trong đó có những lần có sự cố ý của tôi.
Rời cửa hàng trò chơi, chúng tôi đi ngược về phía ga Umeda.
- Ôi, bàn tay xinh đẹp tội nghiệp! Ta có thể làm gì để chuộc lại tội lỗi này? - tôi vừa nói theo một cách rất kịch, vừa vuốt ve bàn tay phải của nàng.
- Ừm, để xem nào - Ayumi ghếch ghếch đầu, làm bộ nghĩ ngợi. Kia, đúng rồi! - nàng reo lên và chỉ tay về phía toà nhà Hep Five - Chúng ta sẽ lên đu quay, nhé!
Bánh xe đu quay Hep Five được xây dựng trên nóc tòa nhà thương mại này. Việc đặt cái kết cấu khổng lồ cao hơn một trăm mét lên một tòa nhà bảy tầng thật không khác gì cắm một lá cờ lên củ xu hào. Quả là một ý tưởng đáng nể!
Bánh xe quay lên chậm chạp. Chúng tôi đứng bên cạnh nhau, nhìn xuống phố xá với những luồng đèn pha đan quét nhau một cách hỗn loạn ở ngay dưới chân. Được một lúc thì không còn nghe được tiếng động nào từ dưới vọng lên nữa, chỉ còn nhìn thấy xung quanh là những nóc nhà chọc trời. Có cảm giác như đang ngồi trong một ống đũa. Qua khúc ấy, bỗng nhiên tất cả mở toang ra trước mắt chúng tôi. Có thể nhìn thấy rõ từng đường nét cân đối của tòa thành Osaka cách đấy dăm cây số. Xa hơn, phía bên tay trái, là những ánh đèn trên các con tàu biển lớn đang đỗ trong cảng Osaka. Xa hơn nữa là một khoảng tối đen. Biển! Và không thấy đường chân trời.
Ayumi dựa người vào tôi, mái tóc lòa xòa của nàng cọ vào một bên má tôi buồn buồn. Tôi ôm lấy vai nàng và khẽ xoay nàng lại. Nàng ngước mắt lên. Trong khoảnh khắc ấy, tôi nghe được tiếng thở phập phồng của biển cả mênh mông dưới bầu trời đen thẳm, và nhìn thấy trong mắt nàng một chấm sáng le lói, rất nhỏ và cô độc, giống như ánh đèn trên một cầu tàu.
